Tại nhà riêng ở TP Hồ Chí Minh, đồng chí Trần Bạch Đằng kể: “Mậu Thân 1968 không phải là hiện tượng tự phát ngẫu nhiên mà là tất yếu trên cơ sở điều kiện khách quan chín muồi cho một cú đánh thôi động lớn, rung chuyển. Đồng thời xuất phát từ sự tính toán của chúng ta, chọn nơi và lúc thích hợp để cú đánh thu hiệu quả tối đa. Tôi nhớ, năm 1969, tại Hà Nội, khi nghe báo cáo tình hình chiến trường sau Mậu Thân, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đã nói: “Mậu Thân là một cú “bombarder” (oanh tạc) cho các yếu tố chính trị tung toé ra”.
Thực tế, từ sau cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm, với những xáo trộn liên miên trong nội bộ bọn cầm quyền Sài Gòn, Đảng ta đã bắt tay vào nghiên cứu cú “bombarder” quyết định. Năm 1964, một kế hoạch hành động tương tự như Mậu Thân được Trung ương xem xét. Tuy nhiên, lúc ấy, nếu lực lượng biệt động được xây dựng tương đối khá nhằm vào những mục tiêu tiêu biểu nhất ở Sài Gòn thì lực lượng quân sự và chính trị nói chung chưa bảo đảm được chức trách nối tiếp biệt động và phát huy thắng lợi.
    |
 |
| Quân Giải phóng truy kích địch trong trận tiến công tại khu vực Bà Chiêm, Tây Ninh đầu năm 1968. |
Các tỉnh miền Nam, thực lực chính trị, quân sự quanh và trong lòng thành thị còn yếu. Quy mô lực lượng chủ lực của chúng ta mới đến cấp trung đoàn, trang bị kém. Bộ đội địa phương vừa hình thành, du kích chiến tranh mạnh hơn, nhưng chưa bám được vùng ven và các vùng xung yếu.
Lực lượng chính trị, đặc biệt nội thành Sài Gòn, đang ở vào thời kỳ tranh chấp giữa cách mạng với các phe phái phản động, cơ hội. Cơ sở Đảng trong tổ chức thanh niên, sinh viên, học sinh, tín đồ đạo Phật... còn ít. Lợi thế rõ nhất của ta là thực binh Mỹ ở miền Nam chưa lên đến con số như sau này.
Vì vậy, Trung ương chỉ đạo hoãn kế hoạch để miền Nam tích cực sửa soạn điều kiện tốt hơn. Trong hai năm sau đó, quân chủ lực của ta được tăng cường rõ rệt, bộ đội địa phương vững vàng hơn. Thử thách mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 với việc bẻ gãy chiến dịch Cedar Falls (hay cuộc hành quân vào vùng “Tam giác sắt”) của địch ở ngoại vi Sài Gòn báo hiệu khả năng tổng tập kích chiến lược đã chín muồi hơn.
Cũng thời gian này, thực binh Mỹ, chư hầu và quân đội ngụy Sài Gòn lên đến con số khổng lồ. Mỹ tung vào chiến trường các phương tiện kỹ thuật tối tân, kể cả máy bay ném bom chiến lược B-52, pháo tầm xa, chất độc hóa học, nhiều loại trực thăng. Hạm đội Mỹ được huy động, tàu sân bay túc trực ở Biển Đông.
Mặt nạ lừa bịp bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ lộ rõ. Mâu thuẫn dân tộc cùng nhiều loại mâu thuẫn khác giữa đông đảo quần chúng vùng tạm chiếm với bọn xâm lược thêm gay gắt. Sự mơ hồ mức nào đó trước đây của quần chúng tan biến dần.
Tháng 5-1967, theo chỉ thị của Bộ Chính trị, Trung ương Cục bắt tay vào việc hoàn chỉnh kế hoạch hành động. Giữa lúc ấy, một mất mát bất ngờ: Anh Nguyễn Chí Thanh, Bí thư Trung ương Cục sau một thời gian ra miền Bắc, chuẩn bị về Nam thì đột ngột qua đời. Bộ Chính trị cử anh Phạm Hùng vào thay và sau đó bổ sung thêm anh Hoàng Văn Thái. Khi nổ súng, anh Lê Đức Thọ cũng vào.
Tôi nhớ, khoảng tháng 7-1967, tại hội nghị Khu ủy Sài Gòn-Gia Định mở rộng, đồng chí Võ Văn Kiệt, Bí thư Khu ủy và là Ủy viên Trung ương Cục thông báo ý định của Bộ Chính trị và Trung ương Cục. Tôi vừa từ nội thành ra, bắt tay nghiên cứu chủ trương của Đảng.
Tháng 8 năm đó, Thường vụ Khu ủy gặp Thường vụ Trung ương Cục và Quân ủy Miền-bấy giờ, đồng chí Phạm Hùng làm Bí thư, giao cho tôi dự thảo kế hoạch hoạt động nội thành, kết hợp các mũi và cánh. Sau khi Thường vụ Khu ủy bổ sung, tôi phải bảo vệ kế hoạch ấy trước Trung ương Cục và Quân ủy Miền.
Bản kế hoạch được thông qua. Tư tưởng chủ đạo là dựa vào lực lượng biệt động, các tiểu đoàn mũi nhọn, lực lượng du kích và vũ trang nhân dân, lực lượng chính trị quần chúng tạo cú bất ngờ giữa thành phố. Vào thời điểm đó, chúng tôi gặp một khó khăn rất lớn khi địch tiến hành đợt khủng bố ở nội thành. Một số đồng chí Khu ủy viên như Trần Văn Kiểu, Lê Thị Riêng và cán bộ cốt cán bị bắt do có phản bội chỉ điểm.
Lực lượng bảo vệ văn hóa dân tộc, hội bảo vệ nhân phẩm và một số tổ chức khác bị địch giải tán, những người cầm đầu bị bắt. Tuy nhiên, lực lượng chủ lực của phong trào quần chúng là thanh niên và công đoàn bảo tồn được. Lực lượng biệt động và du kích vũ trang không chuyên nghiệp thoát khỏi cuộc khủng bố. Nghĩa là các điều kiện chủ yếu ở nội thành còn nguyên vẹn”.
Tháng 10-1967, Khu ủy mở hội nghị cán bộ do đồng chí Trần Bạch Đằng chủ trì ở khu vực đầu nguồn sông Vàm Cỏ Đông. Hội nghị nghiên cứu chủ trương của Trung ương và kế hoạch của Khu ủy. Sau đó, một loạt hội nghị do Trung ương Cục triệu tập, bàn biện pháp hiệp đồng. Lực lượng chủ lực các khu, kể cả Tây Nam Bộ và một số tiểu đoàn miền Bắc vượt Trường Sơn vừa đặt chân đến Nam Bộ được điều về chiến trường trọng điểm.
Tổ chức chỉ huy chiến trường cũng được bố trí. Một đảng ủy tiền phương được thành lập, do đồng chí Trần Văn Trà và Võ Văn Kiệt phụ trách. Đồng thời, Trung ương Cục quyết định thành lập hai phân ban Đảng ủy và Bộ tư lệnh Tiền phương. Phân ban Đảng ủy và Bộ tư lệnh Tiền phương Bắc (còn gọi là Tiền phương 1), phụ trách quân chủ lực hướng Bắc, Tây Bắc và Đông thành phố, gồm đồng chí Trần Văn Trà, Phó tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và các đồng chí Mai Chí Thọ, Lê Đức Anh. Mục tiêu là chiếm khu Quán Tre, một nửa sân bay Tân Sơn Nhất, các căn cứ quân sự Gò Vấp, thị xã Gia Định, Bộ Tổng tham mưu, đồng thời phụ trách các tiểu đoàn chiếm lĩnh nối tiếp biệt động nội thành.
Phân ban Bộ tư lệnh Tiền phương Nam (còn gọi là Tiền phương 2) phụ trách các đơn vị chủ lực hướng Nam và một phần Tây Nam, toàn bộ lực lượng biệt động và quần chúng vũ trang, phụ trách nội thành, đánh các mục tiêu: Đại sứ quán Mỹ, dinh Độc Lập, Bộ Tổng tham mưu, Đài Phát thanh, Bộ tư lệnh Hải quân, kho xăng Nhà Bè, Tổng Nha cảnh sát. Đảng ủy gồm đồng chí Võ Văn Kiệt, Trần Bạch Đằng và một số đồng chí khác. Phương tiện liên lạc chủ yếu là điện đài và bộ đàm tầm trung.
    |
 |
Quân Giải phóng, lực lượng biệt động, đặc công nhận nhiệm vụ và tuyên thệ trước giờ xuất kích tổng tấn công Sài Gòn Xuân Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu
|
Đầu năm 1968, phân ban Bộ tư lệnh Tiền phương Nam chuyển xuống Rừng Nhum và phân ban Bộ tư lệnh Tiền phương Bắc chuyển xuống Củ Chi. Các bộ phận tiếp tục hoàn thành những chi tiết cuối cùng trước khi nổ súng. Đồng chí Trần Văn Trà hỏa tốc ra Hà Nội báo cáo và trở về mang ý kiến cuối cùng của Bộ Chính trị trước ngày nổ súng không bao lâu. Chỉ đạo của Bộ Chính trị và đồng chí Lê Duẩn là: Tổng công kích-Tổng khởi nghĩa là một quá trình. Bộ Chính trị quyết định nổ súng đêm mồng Một, rạng mồng Hai Tết.
Đồng chí Trần Bạch Đằng cho biết: “Với chúng tôi, ngày giờ đó khá cập rập và có phần mâu thuẫn với dự kiến. Chúng tôi dự kiến đêm mồng 5 rạng mồng 6 sẽ có một cuộc tập hợp quần chúng lớn ở vườn Tao Đàn, gọi là “Tết Quang Trung”. Hàng vạn người sẽ xung phong phối hợp với biệt động chiếm dinh Độc Lập.
Cũng vào thời điểm ấy, một “biến cố” xảy ra: Có chuyện đổi lịch, Tết Nguyên đán đến sớm một ngày. Do đó, Huế và Khu 5 nổ súng trước chúng tôi. Phân ban Đảng ủy Tiền phương Nam tập kết ở Ba Thu và khi nhận được quyết định ngày N, giờ G vào xế chiều 29 Tết, lập tức hành quân. Biệt động nổ súng đúng giờ vào các mục tiêu theo kế hoạch. Riêng mục tiêu Tổng Nha cảnh sát, kho xăng Nhà Bè, Bộ tư lệnh Hải quân không thực hiện được.
Ta chiếm được nửa sân bay Tân Sơn Nhất. Các tiểu đoàn do Bộ tư lệnh Tiền phương Nam phụ trách cùng các lực lượng bán vũ trang lọt sâu vào nội thành, kết hợp với lực lượng quần chúng làm chủ một vùng rộng đến tận Ngã sáu Chợ Lớn, Cầu Muối, Chợ Thiếc. Nhưng lực lượng chính quy không vào được thành phố. Cuối cùng, chúng tôi phải rút với các tổn thất khá nặng, nhất là lực lượng biệt động...”.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là một bước ngoặt chiến lược, giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấm dứt ném bom miền Bắc, chấp nhận đàm phán tại Hội nghị Paris, mở ra thời kỳ mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và thể hiện sức mạnh, ý chí quật cường của quân và dân ta.
SỸ HƯNG