“Có thể được”

Ngay từ khi thành lập, Đảng ta đã chủ trương tổ chức các đội tự vệ, cứu quốc và quân du kích hỗ trợ cho phong trào đấu tranh của quần chúng. Đây là những hạt giống đầu tiên, là cơ sở để lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ thị: “Chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao-Bắc-Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực”. Trong Hồi ký “Từ nhân dân mà ra”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhớ rất chi tiết cuộc gặp Bác ở Pác Bó vào một đêm tháng 9-1944. Những nhận xét, gợi mở của Bác đã giúp ông nhìn rõ nhiều vấn đề còn đang phân vân như tổ chức lực lượng chính trị và quân sự khi phát động chiến tranh nhân dân; bảo vệ nhân dân, tản cư nhân dân ra sao? Nếu đưa nhân dân vào rừng thì tổ chức cuộc sống mới tại đây như thế nào cũng như làm cách nào để nhân dân có thể tiếp tục tăng gia sản xuất khi cuộc khủng bố kéo dài ngày?...

Trước cách giải quyết mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đề ra là: “Tập hợp những cán bộ, chiến sĩ anh dũng nhất, những vũ khí tốt nhất, tổ chức thành một đội vũ trang tập trung để hoạt động. Ta sẽ dùng hình thức vũ trang để gây ảnh hưởng cách mạng sâu rộng trong quần chúng. Tác chiến phải nhằm gây được ảnh hưởng tốt về chính trị, do đó mà mở rộng cơ sở, phát triển lực lượng vũ trang. Chúng ta sẽ lập đội Quân giải phóng” và với câu hỏi có thể đảm nhiệm công tác này hay không của Người, đồng chí Võ Nguyên Giáp quả quyết: “Có thể được”.

Ông kể trong hồi ký: Khi trả lời Bác như vậy, tôi đã nghĩ đến sức mạnh vô cùng to lớn của đồng bào, nghĩ đến lòng yêu nước tha thiết, có thể hy sinh tất cả vì Tổ quốc của những người dân đã được Đảng giác ngộ... Trong căn lều lạnh giá, không đèn đóm, Bác và chúng tôi, mỗi người gối đầu trên một khúc gỗ cứng. Bác phác ra những nét chính về Đội Việt Nam Giải phóng quân, từ tổ chức đến phương châm hành động và vấn đề cung cấp lương thực, đạn dược. Bác hướng dẫn cho tôi làm một bản kế hoạch. Bác dặn đi dặn lại nhiều lần: “Phải dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không thể nào tiêu diệt được”.

Thực hiện chỉ đạo của Bác, sáng hôm sau, đồng chí Võ Nguyên Giáp và Lê Quảng Ba đã hội ý, đi đến thống nhất kế hoạch tổ chức ra một trung đội gồm 3 tiểu đội. Lực lượng được lựa chọn từ các đội vũ trang ở các châu Hà Quảng, Hòa An, Nguyên Bình và bộ phận học sinh quân. Danh sách từng chiến sĩ trong Đội được hai người trao đổi cụ thể, đồng thời xác định: Những hoạt động đầu tiên của Đội sẽ nhằm đánh vào một vài đồn địch, cướp súng đạn của giặc, phải đánh thắng thật giòn giã để khuếch trương thanh thế. Nguồn cung cấp sẽ dựa vào nhân dân. Hoàn thành dự thảo kế hoạch, họ báo cáo xin ý kiến Bác ngay buổi chiều cùng ngày. Nghe xong, Người nhất trí và yêu cầu: “Trong vòng một tháng phải có hoạt động. Trận đầu nhất định phải thắng lợi”.

leftcenterrightdel
 Các đại biểu dự Chương trình "Về nơi khởi nguồn" dịp kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, năm 2024. Ảnh: TUẤN HUY

Lời thề mang lửa giữa rừng

Sau thời gian tích cực làm công tác chuẩn bị, ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập tại khu rừng Trần Hưng Đạo nằm giữa hai tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo, thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Đúng 17 giờ, dưới lá cờ đỏ sao vàng, toàn Đội long trọng thực hiện nghi thức.

Năm 2012, tại nhà riêng ở huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng, chúng tôi gặp đồng chí Tô Đình Cắm, một trong 34 thành viên đầu tiên của Đội. Ở tuổi 90, ông vẫn khỏe mạnh và minh mẫn. Những hình ảnh về buổi lễ năm ấy vẫn vẹn nguyên trong ký ức, cựu chiến binh Tô Đình Cắm kể: “Tôi quê ở bản Um, xã Tam Kim của tỉnh Cao Bằng, tham gia Việt Minh từ năm 17 tuổi, gia nhập Đội với bí danh Tô Tiến Lực. Hầu hết thành viên trong Đội chưa được học tập, huấn luyện gì nhiều. Cán bộ hướng dẫn thế nào, chúng tôi làm theo thế ấy và hoàn toàn tin tưởng nên dù bất ngờ nhưng chúng tôi rất tự tin. Chiều muộn, tất cả tề tựu đông đủ trên một khoảng đất trống. Khi anh Văn đọc quyết định thành lập, chúng tôi nghiêm trang lắng nghe trong niềm xúc động, tự hào. Giọng anh trầm, rõ, vang đều trong gió. Tôi không nhớ hết từng câu nhưng chắc chắn một điều: Tất cả chúng tôi tin vào anh, tin vào cách mạng. Đứng dưới lá cờ đỏ thắm, lòng tràn đầy tin tưởng, chúng tôi đồng thanh đọc lời thề danh dự”.

Vừa kể với chúng tôi, người cán bộ tiền khởi nghĩa ấy vừa nắm tay làm động tác dứt khoát giống như khoảnh khắc đưa tay lên tuyên thệ và cùng các đội viên đọc 10 lời thề năm xưa. Ông bảo, lễ thành lập Đội diễn ra vào cuối mùa đông, khí trời nơi non cao lạnh buốt. Tối hôm đó là đêm du kích đầu tiên của tất cả mọi người. Bộ đội và đồng bào quây quần quanh ngọn lửa hồng đỏ rực giữa khu rừng thiêng. “Bữa cơm nhạt” diễn ra trong không khí đầm ấm và cảm động. Tất cả chiến sĩ lần lượt giới thiệu bí danh, tiểu sử của mình và phát biểu nguyện vọng trong giờ phút mới tòng quân. Cả 34 con người đều thống nhất: Giết được nhiều giặc, lấy được nhiều súng Tây để thay cho súng kíp và mong sao Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân chóng trở nên một đội quân mạnh mẽ. Nước Việt Nam được độc lập, tự do.

“Sau lễ thành lập, chúng tôi bước vào trận đánh đầu tiên ở đồn Phai Khắt và Nà Ngần. Hai trận đều kéo dài không lâu nhưng đã mở ra truyền thống “đã ra quân là chiến thắng” của Quân đội ta. Mừng chiến công, anh Văn bắt tay từng chiến sĩ, ánh mắt rực sáng niềm tự hào. Từ đây, chúng tôi có niềm tin mạnh mẽ rằng đội quân nhỏ bé của mình sẽ lớn lên thành lực lượng không gì cản nổi”, ông Tô Đình Cắm cho biết.

Bước chân Phù Đổng

Buổi lễ giản dị giữa rừng Trần Hưng Đạo, nơi những ánh mắt tràn đầy niềm tin của các chiến sĩ đầu tiên của QĐND Việt Nam hòa cùng hơi lạnh mùa đông, lịch sử cách mạng Việt Nam đã mở ra một chương mới. Sắt son với lời thề giữa rừng thiêng năm xưa, đội quân “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu” bước vào hành trình lập nên những chiến công hiển hách.

Từ 34 chiến sĩ được nhân dân nuôi dưỡng, Đảng và Bác Hồ giáo dục, rèn luyện, “Ðội quân rừng Trần Hưng Ðạo” ngày một lớn mạnh không ngừng, góp sức cùng toàn Đảng, toàn dân làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh Nhà nước Việt Nam mới-một nhà nước dân chủ mang bản chất công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. 10 năm sau ngày thành lập, đội quân ấy đã phát triển, trở thành một đội quân chính quy, chiến đấu anh dũng, sẵn sàng hy sinh, làm nòng cốt cùng toàn dân làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ-

một điển hình xuất sắc, đỉnh cao của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Tiếp đến là 21 năm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc vào mùa xuân năm 1975. Đất nước thống nhất chưa lâu, khi chủ quyền lãnh thổ biên cương bị xâm phạm, Quân đội ta tiếp tục cùng với nhân dân chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, phía Tây Nam, tiếp đó là giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, đưa đất nước chùa tháp hồi sinh, làm tròn nghĩa vụ quốc tế với nước bạn Lào anh em...

Dịp kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam (tháng 12-2024), chúng tôi được cùng đoàn đại biểu anh hùng, tướng lĩnh, sĩ quan trở lại khu rừng Trần Hưng Đạo tham dự Chương trình “Về nơi khởi nguồn” do Báo QĐND tổ chức. Trước anh linh các bậc tiền nhân, Ban tổ chức báo cáo những thành tựu đầy tự hào của Quân đội ta trong kỷ nguyên phát triển của đất nước và mục đích, ý nghĩa của chương trình. Còn các nhân chứng lịch sử thì bồi hồi xúc động kể về những kỷ niệm đẹp trong đời quân ngũ của mình, góp phần truyền lửa cho thế hệ trẻ trên quê hương cách mạng.

Cùng chúng tôi leo hết các bậc thang để tới những điểm di tích, Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Hoàng Văn Thượng, người con quê hương Cao Bằng kể về ước mơ trở thành quân nhân ông ấp ủ từ thuở bé khi nghe các bậc lão niên trong bản truyền tai nhau về đội quân ông Ké trong rừng. Khi trưởng thành, ông nhập ngũ vào đơn vị đặc công, tham gia kháng chiến chống Mỹ, cứu nước rồi làm nhiệm vụ của người lính xây dựng, bảo vệ Tổ quốc cho đến khi nghỉ hưu năm 2007. Rời quân ngũ gần 20 năm nhưng những lời thề của người quân nhân cách mạng ông vẫn thuộc nằm lòng. Trong khi đó, Thượng tướng, PGS, TS, Anh hùng LLVT nhân dân Võ Tiến Trung-người con xứ Quảng anh hùng, sau những chia sẻ về cuộc đời binh nghiệp với nhiều câu chuyện như huyền thoại đã khẳng định: “Đảng, Nhà nước chủ trương xây dựng LLVT nhân dân với nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, Quân đội giữ vai trò nòng cốt, cùng các ban, ngành, cơ quan Trung ương, địa phương thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Vì vậy, ngay trong thời bình, chúng ta phải chuẩn bị cho nhiệm vụ này, phải xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, huy động sức mạnh tổng hợp để nhân dân cùng với Quân đội bảo vệ Tổ quốc”.

BÍCH TRANG