Ông Chức kể, năm 1949, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp diễn ra ác liệt, quân và dân hai nước Việt Nam-Lào đã đoàn kết cùng nhau vượt mọi gian khổ. Phía nước bạn Lào, đồng chí Kaysone Phomvihane, Trưởng ban Xung phong Lào Bắc cùng 14 chiến sĩ ở mật khu kháng chiến tại Phiêng La, xã Chiềng On (Yên Châu, Sơn La), nơi đồng bào người Mông sinh sống. Được sự đùm bọc và che chở của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Sơn La, Ban Xung phong Lào Bắc đã vượt rừng, vượt sông Đà tiến về vùng sông Thao khu vực Phú Thọ ngày nay để tạo dựng phong trào và tổ chức. Từ sông Thao, qua đò sông Hồng vào địa phận xã Ấm Thượng (huyện Hạ Hòa), Ban Xung phong Lào Bắc đã nhanh chóng tiếp cận với Chiến khu 10 và đến đền Chu Hưng (thuộc xã Ấm Hạ).
Tại ngôi đền Chu Hưng, đồng chí Kaysone Phomvihane cùng 14 chiến sĩ đã lấy sân đền làm địa điểm huấn luyện, chuẩn bị mọi điều kiện cho việc thành lập Đội vũ trang Lát-xa-vông (tiền thân của Quân đội nhân dân Cách mạng Lào). Dưới tán cây sui cổ thụ, xanh thẳm, bên mái đình cổ kính, ngày ngày, các chiến sĩ Lào đã tích cực ngày đêm tập luyện với mong muốn sẽ sớm thành lập được đội vũ trang đầu tiên của đất nước mình. Vào ngày đầu huấn luyện, phía Quân đội Việt Nam có đồng chí Lê Trọng Tấn, khi ấy là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sông Lô đến thăm và động viên anh em chiến sĩ nước bạn.
    |
 |
Nhà bia Việt-Lào tại xã Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ (địa điểm Chiến khu 10), nơi ghi dấu địa điểm huấn luyện của đồng chí Kaysone Phomvihane cùng 14 chiến sĩ của Lào. Ảnh: PHÚ THỌ
|
Sau khi đã chuẩn bị mọi điều kiện, năm 1950, đồng chí Kaysone Phomvihane cùng các chiến sĩ trở về nước để chiến đấu giành chính quyền. Khi ấy, Chiến khu 10 phân công đơn vị, trong đó, đồng chí Nguyễn Ngọc Chức nhận nhiệm vụ bảo vệ đồng chí Kaysone Phomvihane về Xam Neua (Lào). Đoàn chủ yếu di chuyển theo đường núi rừng gập ghềnh, hiểm trở, vượt đèo, vượt suối. Có đoạn, đoàn đi bộ từ 5 giờ ở chân đèo, đến 17 giờ mới lên đến đỉnh đèo.
Theo lời ông Nguyễn Ngọc Chức kể, khi sang đến nước bạn Lào, bộ đội ta đều phải nhờ và dựa vào dân. Ban đầu, việc tiếp xúc với dân gặp nhiều khó khăn do chưa biết ngôn ngữ, phong tục, tập quán còn nhiều lạ lẫm. Vì thế, bộ đội ta vừa ra sức tuyên truyền, vừa đẩy mạnh công tác dân vận để cho dân hiểu mục đích của bộ đội ta sang Lào chiến đấu và giúp đỡ. Lúc đầu, khi nói đến cụm từ “Việt Minh”, người dân trong các bản làng tỏ ra sợ hãi, bỏ chạy khắp nơi, vì trước đó, họ đã bị thực dân Pháp tuyên truyền rằng Việt Minh là kẻ xấu, hại dân. Bởi vậy, bộ đội ta tập trung dân theo đơn vị bản, tổ chức đêm văn nghệ, tuyên truyền cho dân về mục đích của Việt Minh sang Lào là để giúp đỡ nhân dân Lào đánh đuổi thực dân, giúp dân có được chính quyền, có được nền dân chủ. Đồng thời, dân làm việc gì thì bộ đội làm việc đó, bộ đội tắm rửa cho trẻ nhỏ là con em của dân bản, vì thế, dân hiểu và ủng hộ, hết lòng giúp đỡ. Lúc đầu, bộ đội nằm dưới nền đất nhà sàn, sau khi dân hiểu, họ đã gọi và cho bộ đội lên nằm ở sàn trên.
CCB Nguyễn Ngọc Chức nhớ, trước khi hành quân sang nước bạn, mỗi đồng chí được cấp hai bộ quần áo. Do hành quân và chiến đấu trong điều kiện vô cùng thiếu thốn, gian khổ, thiếu thuốc chữa bệnh, thiếu lương thực nên trong thời gian đầu, nhiều người bị ghẻ lở, sốt rét. Cả tháng dường như không biết đến hạt gạo, hạt muối, phải ăn củ nâu, bột ngô đồ lên cho đỡ đói. Tuy thiếu thốn nhưng ý chí chiến đấu của bộ đội ngày càng cao. Tình quân dân ấm áp, nghĩa tình ngày càng gắn bó, keo sơn.
Đến năm 1958, ông Chức phục viên trở về quê hương, tham gia các công tác là cán bộ Phòng Thủy lợi huyện Hạ Hòa, cán bộ Hợp tác xã tín dụng xã Ấm Hạ cho đến khi nghỉ hưu.
NGUYỄN THẾ LƯỢNG