Ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp, Trung ương Đảng đã ra bản chỉ thị “Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, ấn định đường lối, sách lược của Đảng trước tình hình biến chuyển nhanh chóng. Đảng chủ trương phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ từ Bắc chí Nam, làm tiền đề cho tổng khởi nghĩa.
Nhiều nơi trên Việt Bắc đã thành lập chính quyền công khai. Nhiều vùng tại trung du đã có Ủy ban Giải phóng dân tộc-một chính quyền nửa công khai của cách mạng. Tại miền xuôi cũng đã diễn ra nhiều cuộc tuần hành vũ trang rầm rộ. Ngoài các lực lượng vũ trang của Đảng tại Việt Bắc, còn rất nhiều đội tự vệ, tự vệ chiến đấu ở trung du, ở miền xuôi và ngay trong lòng các thành phố lớn. Tại miền Trung, Đội du kích Ba Tơ đã nổi dậy ở Quảng Ngãi. Tại Nam Kỳ, những hoạt động của Việt Minh cũng phát triển mạnh.
Từ ngày 15 đến 20-4-1945, dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Trường Chinh, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ đã diễn ra tại Hiệp Hòa, Bắc Giang. Hội nghị nhận định trong tình thế khi đó, cần phải phát động chiến tranh du kích và chuẩn bị tổng khởi nghĩa.
Về quân sự, hội nghị quyết nghị chia toàn quốc ra 7 chiến khu, đề ra nhiệm vụ xây dựng Việt Bắc thành căn cứ địa kháng Nhật kiểu mẫu để mở rộng chiến tranh du kích; thống nhất Cứu quốc quân và Giải phóng quân, đồng thời thành lập Bộ tư lệnh miền Bắc. Hội nghị quyết định sáp nhập một số tỉnh trung du vào Căn cứ địa Việt Bắc để làm vùng hoạt động du kích ngoại vi, bảo vệ cho căn cứ. Nhiệm vụ vũ trang Nam tiến được chú ý đặc biệt với việc tổ chức một đội tinh nhuệ tiến gấp về hướng Nam. Hội nghị bầu ra một Ủy ban quân sự cách mạng để trực tiếp điều hành công việc cho đến lúc khởi nghĩa.
Về chính trị, hội nghị đề ra nhiệm vụ đoàn kết toàn dân, lôi cuốn cả các thành phần, tầng lớp vào phong trào cứu quốc, đẩy mạnh phong trào đi tới bằng cách kêu gọi nhân dân vũ trang tuần hành ở những vùng chưa phát động du kích.
Theo chỉ thị của Bác, cần có một cuộc đại hội đại biểu gồm các giới, các đảng phái, các thân sĩ trong toàn quốc để thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam và tiến tới thành lập Chính phủ lâm thời. Trong hồi ký, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết, khi nghe báo cáo về kết quả Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, Bác cho rằng việc chia các tỉnh ra làm nhiều chiến khu quá rườm rà, không lợi cho việc chỉ huy chung, nên lập thành một khu căn cứ lấy tên là Khu giải phóng. “Các lực lượng vũ trang thống nhất lại là rất đúng và đặt tên là Giải phóng quân. Bác bàn với chúng tôi làm dự thảo nghị quyết về việc thành lập Khu giải phóng và quyết định triệu tập hội nghị cán bộ toàn khu để thống nhất lãnh đạo và triển khai công tác”-Đại tướng kể.
Chính vì vậy, một hội nghị cán bộ được triệu tập ngày 4-6-1945 và đã quyết nghị, thành lập Khu giải phóng là một căn cứ địa vững chắc về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa để làm bàn đạp Nam tiến, giải phóng toàn quốc. Tân Trào được chọn làm thủ đô của Khu giải phóng. Ủy ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng được thành lập. Đồng chí Võ Nguyên Giáp được chỉ định làm thường trực của Ủy ban.
Chính quyền nhân dân trong toàn Khu giải phóng được chỉnh đốn lại bằng bầu cử theo phổ thông đầu phiếu. Lần đầu, người dân được trao lại những quyền tự do, dân chủ đã bị cướp đoạt, tự mình lựa chọn những người đứng ra đại diện bảo vệ quyền lợi cho mình. Ý nghĩa của việc bầu cử được tuyên truyền, giải thích sâu rộng. Ngoài những cuộc mít tinh để nghe cán bộ giải thích còn có những đội kịch đi khắp các nơi làm công tác tuyên truyền cho nhân dân.
Đồng bào Khu giải phóng là những người đầu tiên được cầm lá phiếu của tự do bầu ra người đại diện. Và cũng chính họ thực hiện quyền phế truất những người không còn xứng đáng để đại diện cho mình. Sử liệu có ghi, bấy giờ tại châu Sơn Dương (Tuyên Quang), một ủy viên châu làm trái phép, nhân dân đã vận dụng quyền bãi miễn. Các xã cử đại biểu đi họp hội nghị thống nhất biểu quyết cách chức ủy viên này.
Một không khí mới tràn về khắp chiến khu. Trong vòng khói lửa, không ngày nào không nghe tiếng súng nổ nhưng bà con vẫn thi đua tăng gia sản xuất. Những đám đất hoang được vỡ. Nhiều hợp tác xã mua bán được tổ chức. Những hoạt động văn hóa cũng được triển khai mạnh mẽ. Phong trào chống nạn mù chữ phát triển rất nhanh chóng, phần lớn các xã đều có trường dạy chữ quốc ngữ. Lần đầu, các cụ già, các bà mẹ cắp sách đến trường. Nhiều châu mở trường cứu quốc sơ cấp, như Chợ Đồn mở trường sư phạm. Chiêm Hóa mở hội nghị văn hóa. Châu, huyện nào cũng bắt đầu có tờ báo của địa phương. Cao-Bắc-Lạng có tờ Việt Nam độc lập. Toàn khu có tờ Nước Nam mới và Giải phóng quân. Mỗi xã đều có một nhà Hội đồng Cứu quốc. Nhân dân thường đến họp để nghe tình hình và bàn bạc những công việc chung...
Thanh thế của Việt Minh và Giải phóng quân ngày càng lớn. Thanh niên từ vùng xuôi lên xin gia nhập Giải phóng quân mỗi ngày một đông. Liên lạc với Trung ương ở miền xuôi đã giữ được rất đều. Mỗi chuyến giao thông, ngoài những tài liệu bí mật còn có rất nhiều sách, báo của Trung ương và các địa phương, những báo công khai xuất bản tại Hà Nội.
Cao trào kháng Nhật cứu nước bấy giờ đã cuồn cuộn từ Bắc chí Nam. Ngay tại các đô thị lớn, như ở Hà Nội, thợ thuyền, học sinh, các giới trí thức, người buôn bán đều tham gia rất đông đảo vào công cuộc kháng Nhật. Toàn thể nhân dân đang hướng về Việt Minh, trông chờ một cuộc chuyển biến lớn.
Trước thời cơ khởi nghĩa nóng rực, Trung ương đã quyết định tích cực chuẩn bị cho cả Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc dân Đại hội. Mặc dù các đại biểu được triệu tập chưa đến đông đủ, để không bỏ lỡ thời cơ, Trung ương và Tổng bộ Việt Minh quyết định tổ chức họp Hội nghị toàn quốc của Đảng ngay từ ngày 14-8-1945 tại Tân Trào.
Hội nghị quyết định mục đích của cuộc chiến đấu là giành quyền độc lập hoàn toàn cho đất nước, thành lập chính quyền nhân dân, thi hành chính sách của Việt Minh, định chính sách ngoại giao đối với Đồng minh. Để đạt mục đích đó, phải huy động toàn thể nhân dân, gồm tất cả các giới, các đảng phái tham gia phong trào cứu quốc, phải gấp rút vũ trang nhân dân chống Nhật và mở rộng Giải phóng quân Việt Nam.
Hội nghị cũng định ra nhiệm vụ quân sự cần kíp, những nguyên tắc của kế hoạch tác chiến, thống nhất các lực lượng vũ trang thành Giải phóng quân Việt Nam; gấp rút củng cố và phát triển bộ đội, thống nhất biên chế, kỷ luật, tăng cường công tác chính trị; tổ chức đảng trong Quân đội lấy trung đội làm đơn vị cơ sở; củng cố các tổ chức chiến đấu và tiểu tổ du kích để lập những đơn vị Giải phóng quân mới ở ngoài Khu giải phóng.
Đến ngày 15-8, khi tin Nhật hoàng ra lệnh đầu hàng được khẳng định, Hội nghị toàn quốc của Đảng đang họp quyết định thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc để lãnh đạo tổng khởi nghĩa và lập Bộ tư lệnh Giải phóng quân Việt Nam. Ngay chiều 16-8, từ Chiến khu Tân Trào, đơn vị Giải phóng quân đầu tiên đã làm lễ xuất phát tiến về Nam. Cũng tại buổi lễ, “Bản quân lệnh số 1” của Ủy ban khởi nghĩa được phát đi. Trong đó có đoạn: “Hỡi nhân dân toàn quốc! Dưới mệnh lệnh của Ủy ban khởi nghĩa, đồng bào hãy đem hết tâm lực ủng hộ đạo quân giải phóng, sung vào bộ đội, xông ra mặt trận đánh đuổi quân thù. Chúng ta phải hành động cho nhanh với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng!”.
Với sự chuẩn bị kỹ lưỡng về mọi mặt và nắm chắc thời cơ, dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, chỉ trong thời gian ngắn, bắt đầu từ chiến khu, cuộc cách mạng “long trời lở đất” đã được nhân dân ta tiến hành thành công trên cả nước và ngày 2-9-1945, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời.
TS NGUYỄN QUANG TẠO