Nói là sự tiếp nối khẳng định chân lý bởi độc lập, tự do đã trở thành dòng chủ lưu trong hệ tư tưởng quân sự Việt Nam, được các bậc tiền nhân đúc kết, gìn giữ và bồi đắp trong suốt quá trình đấu tranh giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc. Tiếp theo bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngày 2-9-1945 và “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” (19-12-1946), Lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước (17-7-1966) tiếp tục khẳng định mục tiêu chính trị của cuộc cách mạng và cuộc kháng chiến mà nhân dân Việt Nam đang tiến hành, đó là độc lập, tự do, hạnh phúc; là khát vọng của một dân tộc vốn không ít lần bị mất nước, chịu cảnh nô lệ, lầm than.

Với dung lượng hơn 1.000 từ, Lời kêu gọi là một áng hùng văn bất hủ hàm chứa những vấn đề căn cốt đặc sắc nhất của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.

Trước hết, Lời kêu gọi đã vạch trần trước “bàn dân thiên hạ” âm mưu xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ và những hành động leo thang chiến tranh: Đế quốc Mỹ dã man, gây chiến tranh xâm lược hòng ăn cướp nước ta, nhưng chúng đang thua to. Chúng ồ ạt mang gần 30 vạn quân viễn chinh vào miền Nam nước ta. Chúng nuôi dưỡng ngụy quyền, ngụy quân làm công cụ hại dân, phản nước. Chúng dùng những phương tiện, vũ khí chiến tranh cực kỳ man rợ như chất độc hóa học, bom napalm... Chúng dùng chính sách đốt sạch, giết sạch, phá sạch. Bằng những tội ác ấy, chúng hòng khuất phục đồng bào miền Nam ta...

Giặc Mỹ trắng trợn dùng không quân bắn phá miền Bắc nước ta, hòng gỡ thế thất bại của chúng ở miền Nam và hòng ép chúng ta “đàm phán” theo ý muốn của chúng... Chúng bắn phá Hà Nội và Hải Phòng. Đó là hành động tuyệt vọng của chúng, khác nào con thú dữ bị thương nặng, giãy giụa một cách hung tợn trước hơi thở cuối cùng...

Thứ hai, Lời kêu gọi vạch rõ cho quốc dân đồng bào và chiến sĩ cả nước, bè bạn và nhân dân thế giới hiểu rõ tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến mà nhân dân Việt Nam đang tiến hành; thấy được dân tộc Việt Nam vốn luôn khát khao hòa bình nhưng đó phải là một nền hòa bình thật sự: Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam; phải rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi Việt Nam thì hòa bình sẽ trở lại ngay lập tức... Nhân dân Việt Nam rất yêu chuộng hòa bình, hòa bình thật sự, hòa bình trong độc lập, tự do, chứ không phải thứ hòa bình giả hiệu, “hòa bình” kiểu Mỹ.

Thứ ba, Lời kêu gọi đưa ra những cảnh báo về các hành động phiêu lưu quân sự, leo thang chiến tranh của đế quốc Mỹ; đồng thời khẳng định quyết tâm kháng chiến của dân tộc Việt Nam nhằm đánh bại các bước leo thang chiến tranh của đế quốc Mỹ: Chúng có thể đưa 50 vạn quân, 1 triệu quân hoặc nhiều hơn nữa để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam. Chúng có thể dùng hàng nghìn máy bay tăng cường đánh phá miền Bắc.

Nhưng chúng quyết không thể lay chuyển được chí khí sắt đá, quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng. Chúng càng hung hăng thì tội của chúng càng thêm nặng. Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

leftcenterrightdel

Thanh niên Thủ đô háo hức lên đường đi B trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ảnh tư liệu 

Thứ tư, kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước đoàn kết đứng lên kháng chiến để bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc và khẳng định niềm tin tất thắng: Vì độc lập của Tổ quốc, vì nghĩa vụ đối với các dân tộc đang chống đế quốc Mỹ, toàn dân và toàn quân ta đoàn kết một lòng, không sợ hy sinh gian khổ, kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn... Chúng ta có chính nghĩa, có sức mạnh đoàn kết của toàn dân từ Bắc đến Nam, có truyền thống đấu tranh bất khuất, lại có sự đồng tình ủng hộ rộng lớn của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và nhân dân tiến bộ cả thế giới, chúng ta nhất định thắng!

Thứ năm, Lời kêu gọi đã gửi đi một thông điệp cho hậu thế, đồng thời cũng là lời hứa với các bậc tiền nhân: “Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”.

Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước thể hiện ý chí sắt đá, quyết tâm kháng chiến đến cùng vì độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam trước hành động leo thang chiến tranh tàn bạo của đế quốc Mỹ. Nó đã gây tiếng vang lớn trên thế giới và cổ vũ mạnh mẽ quân, dân cả nước vượt qua thử thách khốc liệt, tiếp tục chiến đấu cho đến khi giành được thắng lợi hoàn toàn. Lời kêu gọi mở ra một cuộc vận động lớn, tiếp thêm năng lượng cho các phong trào thi đua yêu nước như: “Ba sẵn sàng”, “Ba đảm đang”, “Ba nhất”, “Hai giỏi”, thi đua giết giặc lập công... trở thành động lực tinh thần to lớn, thôi thúc mọi người dân Việt Nam đoàn kết, thống nhất về ý chí và hành động, củng cố niềm tin, bước vào giai đoạn quyết liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Trên chiến trường miền Nam, hiện thực hóa Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân giải phóng đã liên tiếp đánh bại các cuộc hành quân Attleboro (1966), Cedar Falls (1967), Junction City (1967), bẻ gãy cuộc phản công mùa khô 1966-1967 của địch và đặc biệt là giành thắng lợi vang dội trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán, tạo ra bước ngoặt cho cuộc kháng chiến.

Sinh thời, Thượng tướng Trần Văn Trà, nguyên Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam cho biết: Cái gì đã tạo nên thành công? Đó là lòng tin quyết thắng, sự dũng cảm vô bờ và hy sinh quên mình từ cấp chỉ huy cao nhất cho đến người chiến sĩ... Nó làm cho địch lung lay tận gốc ý chí xâm lược, không còn mơ hồ tìm chiến thắng bằng leo thang chiến tranh cao độ khi buộc phải tỉnh ngộ rằng sức mạnh và tiềm lực, tiền của của Hoa Kỳ là có hạn, không đủ sức bắt các dân tộc-dẫu là một dân tộc nhỏ, yếu hơn-quỳ gối đầu hàng khi dân tộc đó có đủ ý chí độc lập, tự do.

Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng (1926-2007), nguyên Phó trưởng ban Dân vận Trung ương kể rằng: “Hồi đó, qua Lời kêu gọi của Bác, chúng tôi càng hiểu rõ hơn cuộc đụng độ này là cuộc chạm mặt, đọ sức trực tiếp giữa quân cách mạng với quân Mỹ. Với tất cả tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, quân và dân miền Đông Nam Bộ đã bẻ gãy cuộc hành quân Cedar Falls đầy tham vọng của địch, vượt qua thử thách mùa khô 1966-1967 một cách ngoạn mục. Thắng lợi này báo hiệu khả năng một cuộc tổng tập kích chiến lược đã chín muồi. Như được tiếp thêm năng lượng, tại hội nghị cán bộ khu ủy do tôi chủ trì nhằm nghiên cứu chủ trương của trên và quán triệt kế hoạch của khu ủy, hầu như không có một ý kiến nào phản bác. Tất cả đều háo hức tập trung nghe và suy nghĩ về phần việc sắp tới của mình...”.

60 năm, tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” được khẳng định trong Lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước của Bác đã được quân, dân ta thấm nhuần và hiện thực hóa một cách xuất sắc, biến khát vọng cháy bỏng đó thành hiện thực sinh động. Ngày nay, Tổ quốc đã độc lập, đất nước đã thống nhất, tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” vẫn trường tồn và giữ nguyên sức sống trong hành trang Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới.

PGS, TS TRẦN NGỌC LONG