Sinh ra và lớn lên ở quê hương miền biển Giao Thủy, tỉnh Nam Định, năm 1972, vừa học xong lớp 7 (hệ 10 năm), Nguyễn Đức Thông tình nguyện nhập ngũ. Do bơi lội giỏi nên anh được tuyển vào Trung đoàn Hải quân 126 (nay là Lữ đoàn 126, Quân chủng Hải quân), sau 3 tháng huấn luyện được thăng quân hàm từ binh nhì lên hạ sĩ.

Đầu tháng 4-1975, khi đang đóng quân ở bán đảo Sơn Trà, Trung đoàn Hải quân 126 nhận lệnh cử đoàn cán bộ, chiến sĩ đi trên 3 tàu 673, 674 và 675 (giả dạng tàu đánh cá) tham gia giải phóng Trường Sa. Ông Thông được giao nhiệm vụ làm mũi trưởng mũi 2, gồm 12 cán bộ, chiến sĩ, được biên chế lên tàu 673. Tàu 673 có 5 mũi đặc công, nhận nhiệm vụ giải phóng đảo Song Tử Tây.

Sau gần 3 ngày đêm trên biển, khoảng 19 giờ ngày 13-4, đảo Song Tử Tây đang bị hải quân ngụy chiếm đóng hiện ra trước mũi tàu. Tin tàu đã thả neo cách đảo chừng 5 hải lý để chuẩn bị tiến công địch như một nguồn sức mạnh khiến mọi người rạo rực khí thế và quên đi cơn say sóng. Ông Thông chia sẻ tiếp: “Gần 1 giờ ngày 14-4, mỗi mũi lên một chiếc xuồng phao 3 khoang để bí mật tiếp cận đảo. Nhờ có kinh nghiệm đi biển nhiều năm nên tôi chỉ huy mọi người bám đúng luồng sóng, bắt vào đúng hướng đông nam của đảo”.

Khi mọi người đã rời xuồng và ẩn nấp, ông Thông lệnh cho đồng chí Nguyễn Cơ Thạch, chiến sĩ mũi 2, vặn van xả để dìm xuồng. Do sơ suất, đồng chí Thạch vặn nhầm van bơm nên một khoang bị nổ. Rất may, do tiếng gió to, sóng lớn và bọn địch có thể đã ngủ say nên sau tiếng nổ, địch vẫn không có động tĩnh gì. Nguyễn Đức Thông bèn rút dao rạch phao và vùi xác xuồng phao xuống cát. Sau đó, ông ra hiệu cho đồng chí Lê Minh Đức cùng bò lên đảo để trinh sát địch. Nắm tình hình xong, ông giao nhiệm vụ cho hai đồng chí là Đức và Trần Đăng Ninh mật phục sẵn sàng tiêu diệt đài thông tin và lô cốt địch hướng đông nam, còn bản thân dẫn các chiến sĩ còn lại về hướng tây nam để đánh chọc sườn trung tâm địch khi có lệnh.

leftcenterrightdel

Vợ chồng cựu chiến binh Nguyễn Đức Thông bên mô hình “Bình yên đảo Song Tử Tây” do ông thiết kế và đầu tư xây dựng tại nhà riêng.    Ảnh: NGỌC GIANG

“Theo hiệp đồng, không quá 4 giờ sáng là phải nổ súng tiêu diệt địch. Thế nhưng hơn 4 giờ rồi mà vẫn chưa nhận được lệnh nổ súng do còn một mũi hỏa lực-xuồng do đồng chí Quế phụ trách chưa bắt được vào đảo. Tôi bò về chỗ đồng chí Đào Mạnh Hống, Phân đội trưởng Phân đội 1 để xin ý kiến. Được sự đồng ý, 4 giờ 30 phút sáng, hai chiến sĩ Đức và Ninh nhận lệnh sử dụng B41 tiêu diệt mục tiêu đài thông tin và lô cốt địch”, ông Thông kể.

Sau phát súng mở màn thì xuồng của đồng chí Quế cũng vừa bắt kịp vào đảo và tham gia tác chiến. Ở hướng tây nam đảo, Nguyễn Đức Thông cùng các chiến sĩ mũi 1 tiến công chọc vào sườn địch. Vì bị bất ngờ nên bọn địch đóng quân trên đảo Song Tử Tây tên bị tiêu diệt, tên thì hoảng loạn buông súng đầu hàng. Mũi 2 của ông Thông bắt sống được 9 tên địch, trong đó mũi trưởng Nguyễn Đức Thông bắt được tên thiếu úy Phi Hùng, quyền đảo trưởng (con của một tướng ngụy quyền Sài Gòn). Sau khi bàn giao tù hàng binh, ông cùng một số đồng đội ra cột cờ hạ cờ địch. Kể đến đây, ông Thông bùi ngùi: “Trong trận đánh này, ngay khi hạ đài thông tin địch, tôi bị mảnh vỡ văng trúng đầu chấn thương, máu chảy đầm đìa. Đồng chí Tống Văn Quang, người Hải Dương, trúng đạn địch hy sinh và được chôn cất trên đảo. Còn đồng chí Ngô Công Quyền cũng bị thương vào bụng”.

Sáng 14-4, tàu 673 cập cảng để trao cờ Quân Giải phóng cho tập thể mũi 2 và đưa thương binh về đất liền. Khoảng 7 giờ 30 phút, lá cờ giải phóng tung bay trong nắng gió Biển Đông ghi thêm một chiến công vào những trang sử vàng truyền thống của Trung đoàn Hải quân 126. Ông Thông cho biết thêm: “Tôi cùng các cán bộ, chiến sĩ còn lại của 5 mũi đặc công giải phóng đảo nhận nhiệm vụ ở lại chốt giữ đảo, hơn một tháng sau mới bàn giao cho đơn vị giữ đảo và trở về đất liền. Thời gian gắn bó với đảo Song Tử Tây tuy ngắn nhưng lại là những kỷ niệm không bao giờ phai mờ trong tôi về tình đồng chí, đồng đội vào sinh ra tử, luôn san sẻ khó khăn với nhau”.

VIỆT HÀ