Đặc biệt với vai trò môn khách (như là quân sư), ông đã có công lớn trong những chiến công của Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai năm 1285. Năm 1287, ông được cử theo đoàn sứ bộ sang nhà Nguyên, bằng trí tuệ uyên bác và tài ngoại giao, ông đã góp phần thiết lập quan hệ hòa hiếu giữa hai nước.

Theo gia phả họ Bạch và sách “Quỳ Trạch đăng khoa lục” của Tiến sĩ Trần Đình Phong (1843-1909) thì Bạch Liêu tự là Cương Nghị, hiệu Thái Sơn, hồi nhỏ có tên là Bạch Đồng Liêu, sinh ngày 15 tháng Giêng năm Bính Thìn (1236) trong một gia đình nho học nghèo nhưng giàu lòng yêu nước. Cha ông làm nghề dạy học và cắt thuốc Bắc, nhưng chủ yếu là chữa bệnh cứu người. 

leftcenterrightdel
Nhà thờ Trại Trạng nguyên Bạch Liêu tại quê hương đang được trùng tu, tôn tạo. Ảnh: NGUYỄN TÂM

Tương truyền, lúc mới sinh, Bạch Liêu rất khôi ngô, đĩnh ngộ khác thường. Từ nhỏ, ông đã được người cha chú ý bày dạy, kèm cặp, học hành ngày một tấn tới. Năm 6 tuổi đã biết đọc, 7-8 tuổi đã biết làm thơ, làm văn và lên 15 tuổi văn chương đã giỏi, điểm sách đã thông và nổi tiếng là thần đồng.

Giai thoại dân gian cũng kể rằng, thời đi học, giữa Bạch Liêu và các bạn thường xảy ra những cuộc tranh cãi về các hiện tượng thiên nhiên và cả về hệ thống pháp luật mà có lần thầy đồ yêu cầu nêu ý kiến, ông nói: “Nếu có một hệ thống pháp luật tốt thì mọi thời đại đều không cần đến nhiều quan cai trị”. Cũng trong những năm đi học này, Bạch Liêu đã quen thân với Đại Minh, một học trò giỏi là con quan tuần phủ. Nhờ Đại Minh mà Bạch Liêu có cơ hội được đọc nhiều cuốn sách trong kho của quan tuần phủ nên kiến thức ngày càng mở rộng và uyên bác.

Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” của Ngô Sĩ Liên chép: “Năm Thiệu Long thứ 9 đời Trần Thánh Tông (1266), tháng ba khoa thi lấy Kinh Trạng nguyên Trần Cố, Trại Trạng nguyên Bạch Liêu. Bạch Liêu là người Nghệ An, thông minh, nhớ lâu, đọc sách 10 dòng một nháy mắt”.

Nói: Đọc sách 10 dòng một nháy mắt (nhất mục thập hàng) là để tỏ ý khâm phục hết mực. Vì đọc sách cổ không những phải nhớ mặt chữ mà còn phải nắm được các nghĩa lý thâm thúy, hàm súc của nó. Mà khối lượng sách cần đọc để đi thi Hội rất lớn. Bạch Liêu đã đáp ứng được yêu cầu của trường quy qua cả 4 kỳ (trường nhất, trường nhì, trường tam, trường tứ) đều đỗ đầu xuất sắc, được người đương thời ca ngợi là hơn cả Kinh Trạng nguyên Trần Cố. Ông được các nho sĩ về sau suy tôn là người khai khoa cho đất học xứ Nghệ:

      Trạng nguyên đệ nhất tam khôi

Nhất danh nhất giáp, đầu ngôi

                                     bảng vàng

      Mũ rồng, áo tía vua ban

Lọng xanh đi trước, lọng vàng

                                       theo sau.

Theo thường lệ, sau khi vinh quy bái tổ, các sĩ tử sẽ nhận được chiếu chỉ của nhà vua mời về triều nhậm chức. Nhưng Bạch Liêu lại không mong vua trao cho chức vụ. Ông đã bái tạ chiếu chỉ nhà vua bằng một sự khước từ rất chân thực: “Xin bệ hạ rủ lòng thương cho thần được ở lại quê báo hiếu song thân, thần xin đem tài lược lo giúp việc công ngay trong bản xứ” (theo gia phả). Lời thỉnh cầu của Bạch Liêu được vua Trần Thánh Tông chấp nhận.

Lúc bấy giờ, vua Nguyên là Hốt Tất Liệt sau cuộc tấn công xâm lược nước ta lần thứ nhất năm 1258 bị thất bại vẫn nuôi tham vọng đánh chiếm Đại Việt. Mặt khác, triều đình nhà Trần vẫn coi Nghệ An là địa bàn trọng yếu nên để xây dựng vùng đất này thành hậu cứ vững mạnh, chuẩn bị đối phó với cuộc xâm lược của quân Nguyên Mông, năm 1266, vua Trần đã cử Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải vào trấn thủ Nghệ An. Nghe tiếng về học vấn và tài năng, đức độ của Bạch Liêu, nhất là khi biết ông không chịu ra làm quan thì lại càng mến phục, Trần Quang Khải đã mời Bạch Liêu đến ở để cùng đàm đạo thơ văn, thế sự, lo tính việc nước. Qua vài lần tiếp xúc, Bạch Liêu vui vẻ nhận lời đã tạm biệt quê hương, gia đình vào chung sống ở đây để cùng chung sức mưu cầu nghiệp lớn. Bạch Liêu được Trần Quang Khải coi là môn khách (khách trong trướng), cương vị như quân sư và biệt đãi hơn hẳn mọi người. Lúc công cán bộn bề thì giúp Trần Quang Khải trù liệu kế hoạch, đề xuất phương lược, lúc nhàn rỗi thì cùng nhau xướng họa văn thơ… Ông đã đem trí tuệ, tài năng hết lòng giúp Trần Quang Khải không chỉ vì sự tâm đắc với một vị tướng tài giỏi mà còn vì tấm lòng với quê hương, đất nước.

Nhờ am hiểu địa bàn, tình thế, điều kiện tự nhiên và con người xứ Nghệ, cùng với đầu óc thông thái, ngay trong năm 1266, Bạch Liêu đã đề xuất với Trần Quang Khải thảo ra một kế hoạch gọi là “Biến pháp tam chương” gồm 3 vấn đề lớn:

1) Về tuyển quân: Bạch Liêu đề nghị tiến hành kiểm kê lại dân số, số lượng đinh tráng trong độ tuổi quân ngũ, tiến tới có một số binh lính sẵn sàng đủ 10 vạn quân. Có quân rồi các phủ huyện phải điểm binh, biên chế thành cơ đội, luyện tập võ nghệ hằng năm và quyên góp trong các hương ấp sắm đủ vũ khí... chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Toàn hạt chỉ tập trung một số quân thường trực nhất định theo số binh khí và hương quân hằng năm của nhà nước, còn lại cho về nhà làm ruộng khi có giặc mới điều động đến.

2) Về quân lương: Cho quyên góp các khoản phụ thu cứu quốc, tích trữ từ ít đến nhiều, từ thiếu đến đủ. Từ Hoành Sơn (nay thuộc Hà Tĩnh) trở ra, từ Ngọc Sơn (nay thuộc Thanh Hóa) trở vào theo đường thượng đạo cho lập các kho lương cứ 20 dặm có một kho chứa đầy lương thực và cả vũ khí, được bảo vệ một cách chu đáo và bí mật.

3) Về sách lược đối với phía Nam: Tăng cường củng cố và xây dựng thêm các đồn binh ở biên giới phía nam Nghệ An. Đồng thời giúp nông dân về khai khẩn đất đai bỏ hoang của người Chiêm Thành để lại, khai khẩn đến đâu lập giáp làng đến đó, vừa mở mang bờ cõi, vừa nghe ngóng cảnh giác đối với địch.  

Kế hoạch 3 phần như trên được Trần Quang Khải cho là thượng sách và giao cho các địa phương thực hiện ngay. Nhờ tích cực chỉ đạo thực hiện nên mới khoảng 4, 5 năm, tình hình Nghệ An đã có những biến đổi nhanh về kinh tế-xã hội, nhiều trang trại được mở ra, đời sống nhân dân no đủ, các kho lương được xây dựng, nhiều đồn binh ở phía Nam được thiết lập, an ninh, quốc phòng được tăng cường, củng cố.

Tháng 3 năm Tân Tỵ (1271), vua Trần xuống chiếu điều Trần Quang Khải về kinh đô làm Tướng quốc Thái úy coi việc cả nước. Tuy vậy, mọi công việc sắp đặt ở Nghệ An vẫn được Bạch Liêu và người kế nhiệm tiến hành đều đặn. Bạch Liêu vẫn hoạt động không tách rời Trần Quang Khải. Khi ông ra Thăng Long, khi ở phủ Nghệ An, khi về làng sống với gia đình, họ hàng thân thuộc. Trần Quang Khải còn giao cho Bạch Liêu quản nhận thay số ruộng mà ông và phu nhân đã khai khẩn được. Hai người đối với nhau tin yêu, thắm thiết lắm.

Theo lịch sử thì ngày 27-1-1285, quân Nguyên Mông do Thoát Hoan chỉ huy chia làm nhiều mũi vượt biên giới đánh vào nước ta. Quân dân Đại Việt đã chặn đánh nhiều nơi nhưng không ngăn chặn được. Chúng đánh chiếm Vĩnh Châu, Nội Bàng, Thiết Lược, Chi Lăng... và tiến sâu vào nội địa. Trước tình thế ấy, Trần Quốc Tuấn buộc phải lui quân chiến lược về bến Vạn Kiếp, Hải Đông (nay thuộc Hải Dương) để tính kế tiếp theo. Cùng lúc ấy, một cánh quân Nguyên Mông khác do Toa Đô chỉ huy từ đất Chiêm Thành đang tiến ra hòng đánh chiếm Nghệ An, Thanh Hóa rồi tiến ra Bắc, tạo ra hai gọng kìm tiến công quân ta từ hai phía.

Thấy rõ âm mưu của địch và tầm quan trọng của địa bàn Nghệ An nên tháng Giêng năm Ất Dậu (1285), Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn đã tâu lên vua Trần cử Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải đem quân vào Nghệ An để chặn đánh cánh quân Toa Đô. Trở lại Nghệ An, Trần Quang Khải gặp lại Bạch Liêu và tướng sĩ thường trực ở đây nên tâm thế rất vững vàng. Ông cùng Bạch Liêu và các quan chức địa phương bàn kế gấp rút chống quân Toa Đô. Lại sai phu nhân và công chúa Châu Nương coi giữ các kho lương ở Diễn Châu, khuyên bảo dân chúng không theo gương xấu của bọn Trần Kiện đầu hàng và chỉ đường cho giặc.

Quân Toa Đô tiến công dữ dội, chúng chiếm đóng rải rác mạn nam sông Lam và chém giết, đốt phá dã man. Trước sức mạnh của quân địch, Trần Quang Khải đã bố trí đánh phục kích một số trận kìm chân địch, trong đó đáng chú ý là trận ở bãi Sa Nam (nay thuộc huyện Nam Đàn), quân nhà Trần đã phục kích tiêu diệt một bộ phận đáng kể quân Toa Đô vượt sông. Mặt khác, ông cũng yêu cầu các điền chủ và nhân dân địa phương sơ tán vào rừng, thực hiện “vườn không nhà trống” khiến cho quân Toa Đô gặp rất nhiều khó khăn. Cũng thời gian này, theo kế sách của Bạch Liêu, Trần Quang Khải đã cho soát lại binh tịch gọi nhập ngũ được khoảng 10 vạn quân. Khi thế đang lên cao, Bạch Liêu đã giúp Trần Quang Khải viết tờ tâu gửi ra vua Trần nói rõ tình hình khả quan ở mặt trận phía Nam. Lúc này, nhà vua cùng với một số quan lại thân cận đang ở trên thuyền ngự chạy ra Quảng Ninh rồi vào Thanh Hóa tránh sự truy đuổi gắt gao của cánh quân Thoát Hoan.

Sau khi chiến tranh kết thúc, Bạch Liêu về quê Nghệ An một thời gian. Có lẽ theo lời mời của các bạn cũ, ông ra sống với bà con làng Nghĩa Lư thuộc đất Hải Đông (sau này thuộc huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương). Ở đây, ông được dân làng tôn kính là thầy và dựng cho một cư xá khang trang, nhiều bậc danh nho trong vùng tìm đến kết bạn. Ông mở trường dạy con em trong vùng, sau này, học trò của ông nhiều người hiển đạt, thi đỗ đến tam khôi. Ông cũng làm nghề cắt thuốc chữa bệnh cứu người và truyền đạt những kinh nghiệm về sản xuất nông nghiệp cho người dân.

Mùa xuân năm Ất Mão (1315), Bạch Liêu lâm bệnh nặng và mất vào ngày 24 tháng Giêng, tại làng Nguyên Xá, huyện Đông Thành. Triều đình giao cho quan sở tại chôn cất chu đáo và được nhân dân địa phương lập đền thờ. Ngoài Nguyên Xá, ông còn được nhân dân nhiều nơi lập đền thờ và tôn là phúc thần.

NGUYỄN TÂM CẨN