Việc lựa chọn nơi nào là địa điểm, tức chỗ “đứng chân” ngay khi về nước lúc bấy giờ là một vấn đề hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định toàn bộ sự phát triển về sau của cách mạng Việt Nam. Ban đầu, Nguyễn Ái Quốc có ý định từ Trung Quốc về nước theo hướng Lào Cai. Người đã cử Bùi Đức Minh, Hoàng Văn Lộc về biên giới Lào Cai nắm tình hình trong nước và đặt cơ sở liên lạc để về nước hoạt động. Nhưng qua nghiên cứu kỹ phong trào cách mạng và địa thế của Cao Bằng, Người quyết định chọn địa bàn chiến lược trọng yếu này để xây dựng thành căn cứ địa vững chắc của cả nước.

Việc lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chọn Cao Bằng để về nước hoạt động và xây dựng căn cứ địa cách mạng không phải là sự lựa chọn tình cờ hay ngẫu nhiên mà là một sự tính toán kỹ lưỡng với tầm nhìn chiến lược của một lãnh tụ thiên tài. Người đã phát hiện Cao Bằng là nơi hội tụ cả 3 yếu tố “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa” để xây dựng căn cứ địa cách mạng của cả nước.

leftcenterrightdel
Bác Hồ về thăm lại Cao Bằng, năm 1961. Ảnh tư liệu 

Trước hết, Cao Bằng là tỉnh miền núi có đường biên giới với Trung Quốc dài hơn 333km, vừa có đường bộ, đường thủy sang Trung Quốc nên rất thuận lợi cho giao thông liên lạc. Từ Cao Bằng còn có các tuyến đường bộ đi xuống Lạng Sơn, Thái Nguyên. Với địa thế hiểm trở, Cao Bằng là địa phương mà thực dân Pháp khó kiểm soát. Từ Cao Bằng, khi lực lượng cách mạng phát triển, cơ sở Việt Minh mở rộng có thể nhanh chóng “Đông tiến” xuống Lạng Sơn, “Nam tiến” xuống Thái Nguyên, “Tây tiến” sang Hà Giang, Tuyên Quang... đến các tỉnh vùng trung du, Đồng bằng Bắc Bộ.

Về mặt địa thế, địa hình, kinh tế, quân sự, Cao Bằng có đủ điều kiện đáp ứng hai yếu tố “thiên thời” và “địa lợi”, trở thành một trong những bàn đạp chiến lược đầu tiên của thời kỳ khởi nghĩa vũ trang. Song yếu tố quan trọng góp phần đi đến quyết định lựa chọn Cao Bằng để lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước là “Cao Bằng có phong trào tốt từ trước”, là nơi sinh sống của nhiều đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao, Kinh, Hoa, Lô Lô,... Từ xưa đến nay, các dân tộc luôn đoàn kết, gắn bó với nhau trong suốt chiều dài lịch sử. Từ ngày có Đảng, đồng bào các dân tộc Cao Bằng luôn một lòng theo Đảng, không ngừng đấu tranh chống đế quốc, phong kiến. Đến năm 1935, nhiều tổ chức “Cộng sản đoàn”, “Công hội đỏ”, “Nông hội đỏ”, “Hội bản”, “Hội làng”... được thành lập tại nhiều nơi ở Cao Bằng.

Vì vậy, Cao Bằng không những có điều kiện thuận lợi cho việc duy trì, phát triển phong trào cách mạng mà còn có “hàng rào quần chúng” bảo vệ vững chắc.

Trong những năm 1938-1939, Tỉnh ủy Cao Bằng đã chỉ đạo xây dựng căn cứ địa cách mạng ở vùng Lục Khu- Pác Bó (Hà Quảng) gồm các xã vùng biên giới Việt Nam-Trung Quốc, tuyên truyền, vận động đồng bào tham gia “Hội đánh Tây”, “Hội phòng phỉ”..., được quần chúng nhân dân ủng hộ nên đã xây dựng được những cơ sở vững chắc. Căn cứ Lục Khu-Pác Bó tiếp giáp với biên giới vừa là địa bàn hoạt động trọng yếu của Châu ủy Hà Quảng, Tỉnh ủy Cao Bằng, vừa bảo đảm những điều kiện thuận lợi cho việc “đứng chân” của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Tầm nhìn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong việc chọn Cao Bằng là một địa bàn có ý nghĩa chiến lược lớn, thấy được mối quan hệ biện chứng giữa một địa phương với toàn quốc, giữa phong trào cách mạng một vùng với phong trào cách mạng cả nước, nhận thức, đoán định được hiện tại và triển vọng tương lai. Sự kiện Bác Hồ về nước vào mùa xuân năm 1941 đã đáp ứng đòi hỏi khách quan của phong trào cách mạng trong nước và phù hợp với sự phát triển của tiến trình lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam. Đối với quốc tế, quyết định về nước đầu năm 1941 và chọn Cao Bằng làm căn cứ địa cách mạng đầu tiên của Người là cơ sở quan trọng để cách mạng Việt Nam củng cố mối quan hệ với các nước Đồng minh chống lại chủ nghĩa phát xít, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của nhiều nước đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đưa nước ta giành thắng lợi bằng cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945.

Thực tế lịch sử đã chứng minh, Cao Bằng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là trung tâm đầu não của phong trào cách mạng cả nước, “mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta”. Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời mở ra một kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc. Để rồi sau đó 9 năm kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, ngày 7-5-1954, nhân dân ta đã làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu” và kết thúc trọn vẹn 21 năm kháng chiến chống Mỹ và tay sai bằng Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Tất cả những dấu son huy hoàng đó đều được bắt đầu từ cái mốc của cách đây tròn 80 năm trước, khi Người về nước (28-1-1941 / 28-1-2021).

TRẦN TRUNG HIẾU