Tháng 5-1953, Pháp cử tướng Navarre sang Việt Nam thay Raoul Salan làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp với sứ mệnh “không phải để thắng trận mà là tạo thế để đàm phán, mở đường cho Pháp rút khỏi chiến tranh trong danh dự”. Ngày 20-10-1953, Thủ tướng Laniel tuyên bố Pháp sẽ nghiên cứu mọi đề nghị của phía Việt Nam, không từ chối thương lượng để đình chiến. Có thể thấy, nhìn chung lúc bấy giờ, các nước lớn đều muốn làm dịu tình hình căng thẳng ở khu vực vì lúc này, châu Âu mới là trọng tâm đối đầu giữa hai phe. Vả lại, thời kỳ này, các nước lớn đều có những lý do, toan tính riêng để đi vào hòa hoãn.

Tháng 11-1953, trả lời phỏng vấn của Báo Expressen (Thụy Điển) về triển vọng giải quyết vấn đề hòa bình ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ thiện chí của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa là sẵn sàng đàm phán với Pháp để tìm kiếm giải pháp hòa bình trên cơ sở Pháp phải thực sự tôn trọng và công nhận độc lập, chủ quyền của Việt Nam. Tuyên bố của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã ngay lập tức thu hút sự chú ý của quốc tế, đặc biệt là ở Pháp, nơi mà dư luận đang thôi thúc Chính phủ Pháp nhanh chóng đàm phán với Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa để tìm giải pháp kết thúc chiến tranh. Như vậy, cơ hội cho một diễn đàn quốc tế bàn về vấn đề Triều Tiên và kết thúc cuộc chiến tranh Đông Dương đã được mở ra.

Theo đề nghị của Liên Xô, tại Berlin đã diễn ra hội nghị của 4 nước lớn là Anh, Pháp, Mỹ và Liên Xô (còn gọi là Hội nghị Tứ cường). Ngày 18-2-1954, 4 nước đã đạt được thỏa thuận về việc triệu tập một hội nghị quốc tế ở Geneva để tìm kiếm những giải pháp cho vấn đề Triều Tiên và Đông Dương. Ngày 3-4-1954, tại Moscow đã diễn ra cuộc gặp giữa các nhà lãnh đạo: Khrushchyov, Chu Ân Lai, Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng để bàn về chủ trương và đối sách của các nước xã hội chủ nghĩa tại Hội nghị Geneva.

Ngày 26-4-1954, Hội nghị Geneva chính thức khai mạc. Tham dự hội nghị có đại diện của 5 cường quốc: Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc và 4 bên liên quan ở Đông Dương. Lẽ ra đây phải là một hội nghị song phương giữa hai bên liên quan trực tiếp là các lực lượng kháng chiến ở Đông Dương và Pháp, nhưng trên thực tế lại trở thành hội nghị quốc tế do Liên Xô và Anh làm đồng chủ tịch.

leftcenterrightdel

Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Tạ Quang Bửu (ngồi bên phải) thay mặt Chính phủ và Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam ký Hiệp định Geneva, năm 1954.  Ảnh tư liệu

Hội nghị Geneva bàn về vấn đề Đông Dương bắt đầu diễn ra một ngày sau khi quân và dân Việt Nam giành được Chiến thắng Điện Biên Phủ. Ông Hà Văn Lâu, nguyên phụ tá Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Tạ Quang Bửu tại Hội nghị Geneva kể: “Vui mừng vì chiến thắng, phái đoàn ta hầu như thức trắng đêm lo cho cuộc họp ngày mai. Anh Tô (đồng chí Phạm Văn Đồng) cũng không ngủ, vì Điện Biên Phủ đã được giải phóng thì phải sửa lại bài phát biểu trên tư thế khác. Như thế là ta bước vào hội nghị với thế mạnh nhờ có thắng lợi quân sự trên khắp các chiến trường ở Việt Nam và Đông Dương, đặc biệt là Điện Biên Phủ. Hôm sau, trước giờ khai mạc, anh Tô tập hợp đoàn căn dặn: “Ta đang ở thế thắng, địch vào thế thua; nhưng ta phải đề phòng, cảnh giác vì nó là nước lớn, nó không chịu nhục. Mặc dù ta thắng lớn trên chiến trường nhưng trên bàn hội nghị còn gay go, phức tạp”.

Thật vậy, Việt Nam Dân chủ cộng hòa đến Geneva trong tư thế của người chiến thắng nhưng lại bị xếp vào diện khách mời “bên có liên quan” như các bên “liên quan” khác là Lào, Campuchia và Chính phủ Bảo Đại. Nhìn vào thành phần có thể thấy, hội nghị chưa họp, Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã ở vào thế bất lợi “một chọi 6”...

Ngay trong phiên họp đầu tiên bàn về vấn đề chiến tranh Đông Dương, Trưởng đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Văn Đồng đã đưa ra đề nghị 8 điểm thể hiện rõ lập trường của Việt Nam Dân chủ cộng hòa, trong đó đáng chú ý có điểm đầu tiên là Pháp công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia; phải rút quân đội ra khỏi 3 nước, coi đây là những vấn đề chính trị, quân sự của một kế hoạch hoàn chỉnh về vấn đề Đông Dương.

Mặc dù có nhiều diễn biến không thuận xảy ra trong khuôn khổ hội nghị và giữa các nước lớn với nhau nhưng qua 75 ngày đêm, hàng chục phiên họp, Hội nghị Geneva về vấn đề Đông Dương đã kết thúc với việc đạt được mục đích chính là chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Dẫu đất nước còn bị chia cắt nhưng chúng ta đã có được một miền Bắc hoàn toàn giải phóng, làm cơ sở để xây dựng hậu phương lớn cho công cuộc kháng chiến về sau. Với Pháp, qua Hiệp định Geneva, họ cũng đạt được một “giải pháp danh dự”, tránh được một thất bại bẽ bàng, cứu được đội quân viễn chinh để đưa về nước. Với các nước lớn như: Trung Quốc, Liên Xô, Mỹ và Anh, qua hội nghị này đều đạt được mục tiêu của mình.

Hiệp định Geneva không chỉ là thắng lợi của nhân dân Việt Nam mà còn là thắng lợi của các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Điều đáng nói là Việt Nam Dân chủ cộng hòa bước vào hội nghị trong tư thế của người chiến thắng. Thật không quá khi nói rằng Geneva là một diễn đàn quốc tế do các nước lớn sắp đặt, quyết định thành phần, thời gian, bước đi, kết quả... Tại diễn đàn này, sự thỏa hiệp giữa các nước lớn đã đưa đến một sự ràng buộc trách nhiệm lỏng lẻo giữa các bên tham dự và Mỹ đã không chịu ký vào bản tuyên bố cuối cùng của hội nghị. Chính điều này tạo ra cái cớ cho Mỹ lợi dụng để thực hiện ý đồ chiến lược lâu dài của họ. Kết cục là tổng tuyển cử đã không diễn ra và nhân dân Việt Nam đã phải đi tiếp chặng đường 21 năm trường kỳ kháng chiến để thống nhất đất nước.

72 năm đã trôi qua, chúng ta càng thấm thía hơn bao giờ hết những bài học được rút ra từ Hội nghị Geneva. Trước hết, đó là bài học về kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Việt Nam Dân chủ cộng hòa bước vào đàm phán tuy có chiến thắng về quân sự tạo lợi thế, có các đồng minh lớn là Liên Xô và Trung Quốc, song họ cũng bị chi phối bởi những vấn đề khác; kinh nghiệm đàm phán của ta còn mỏng, mọi công tác bảo đảm cho phái đoàn ta đến dự hội nghị đều phụ thuộc vào bạn... Tóm lại, phái đoàn ta phải đối mặt với rất nhiều thách thức. Trong bối cảnh đó, đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã kiên quyết và kiên trì đàm phán để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, mà trước hết là chấm dứt chiến tranh và chế độ thuộc địa của Pháp ở Đông Dương, khôi phục lại độc lập, chủ quyền, thống nhất cho Việt Nam... Trong khi phía Pháp chỉ muốn giải quyết vấn đề quân sự thuần túy thì phái đoàn ta kiên quyết đấu tranh, đạt được cả hai vấn đề quân sự và chính trị. Tại Geneva, rất nhiều vấn đề căn cốt lẽ ra ta phải đàm phán trực tiếp với Pháp nhưng không thực hiện được. Thay vào đó là sự thỏa hiệp giữa các nước lớn. Bài học này về sau đã được chúng ta vận dụng thành công tại Hội nghị Paris năm 1973.

Tiếp theo là bài học về độc lập, tự chủ, đoàn kết và hợp tác quốc tế. Bước vào Hội nghị Geneva, chúng ta đã quá dựa vào các đồng minh lớn là Liên Xô và Trung Quốc. Bài học từ Hội nghị Geneva là lời nhắc nhở đừng bao giờ để mình rơi vào thế bị o ép; đừng bao giờ bị lệ thuộc, đánh mất tính độc lập, tự chủ để bảo vệ các quyền dân tộc cơ bản, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Các quyền trên là “bất biến”, phương sách đối phó để bảo vệ các quyền trên là “ứng vạn biến”.

Nội dung Hiệp định Geneva thể hiện những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Những nguyên tắc đó tuy có bị vi phạm bởi những toan tính của một số nước nhưng sức sống của hiệp định thì bất diệt. Đó là một thực tế không ai có thể phủ nhận về giá trị của Hiệp định Geneva.

TRẦN VĨNH THÀNH