Bắt đầu từ ngày 8-5 đến 21-7-1954, trải qua 75 ngày thương lượng, các hiệp định về đình chỉ chiến sự giữa quân đội Liên hiệp Pháp với quân đội 3 nước Đông Dương được ký kết tại Geneva, Thụy Sĩ. Các nước lớn tham gia hội nghị đã công nhận độc lập và chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, mở ra một thời kỳ mới cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta.

Sinh thời, khi kể về nhiệm vụ tham gia đoàn ngoại giao Việt Nam đàm phán tại Hội nghị Geneva, đồng chí Hà Văn Lâu (1918-2016), nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao cho biết: “Lúc đó, tôi đang là cán bộ của Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu thì có lệnh đi nhận nhiệm vụ. Tôi không nhận được quyết định bằng văn bản. Tất cả đều là chỉ thị, mệnh lệnh miệng của cấp trên, kể cả quyết định phong quân hàm Đại tá của tôi cũng bằng miệng. Cấp trên cho biết, vì yêu cầu đối ngoại nên tôi được phong cấp Đại tá, tham gia đoàn quân sự do anh Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng làm Trưởng đoàn và là một bộ phận của đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa do Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn”.

Bấy giờ, công việc của đồng chí Hà Văn Lâu và đồng đội ở Cục Tác chiến rất nóng bỏng, căng thẳng bởi ta đang chuẩn bị mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Tuy nhiên, do cơ quan Cục Tác chiến và cơ quan Chính phủ ta đều đóng quân ở Việt Bắc nên trước khi lên đường, tranh thủ thời gian thuận lợi, các thành viên phái đoàn ta đã có những cuộc làm việc, hội ý và triển khai công tác chỉ đạo của trên. Theo lời kể của đồng chí Hà Văn Lâu, đoàn quân sự của ta đi tàu hỏa qua Bắc Kinh rồi sang Moscow trước khi tới Thụy Sĩ. Đoàn dừng ở Trung Quốc và Liên Xô một số ngày để hội đàm với các nhà lãnh đạo nước bạn.

Về mặt ngoại giao, với Hội nghị Geneva, lần đầu tiên ngoại giao Việt Nam bước lên vũ đài quốc tế. Khác với Hội nghị Đà Lạt (từ ngày 19-4 đến 10-5-1946) và Hội nghị Fontainebleau (năm 1946) chủ yếu là song phương, ở Geneva, chúng ta đã tham gia vào một diễn đàn đa phương với sự tham gia của 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Và đây cũng là lần đầu tiên chúng ta vận dụng sách lược “vừa đánh vừa đàm”.

Trong buổi họp ngày 29-5 và 2-6, Hội nghị Geneva đã đi đến thỏa thuận, đại biểu của Quân đội Việt Nam và Pháp sẽ gặp nhau ở cả Geneva và Việt Nam. Vì vậy, cùng với đàm phán tại Geneva, còn có Hội nghị quân sự Trung Giã-cuộc gặp tại chỗ giữa Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam và Bộ Tổng chỉ huy các lực lượng Liên hiệp Pháp ở Đông Dương diễn ra ở trong nước, nhằm thúc đẩy và tạo thuận lợi cho Hội nghị Geneva cũng như việc thi hành hiệp định sau đó.

leftcenterrightdel
 Toàn cảnh phiên họp bế mạc Hội nghị Geneva, tháng 7-1954. Ảnh tư liệu

Trước khi Hội nghị quân sự Trung Giã chính thức khai mạc, hai bên thống nhất cử đại diện gặp nhau để bàn cụ thể việc trao trả và tiếp nhận thương binh, bệnh binh. Thiếu tá Nguyễn Văn Lê (tên thật là Lưu Văn Lợi (1913-2016), sau này là Đại tá, Trưởng ban Biên giới Chính phủ), sĩ quan liên lạc, thư ký hội nghị kể: “Ngay sau ngày tiếp nhận và trao trả thương binh giữa hai bên, vào ngày 18-6-1954, Bộ Tổng chỉ huy các lực lượng Liên hiệp Pháp ở Đông Dương trả lời hoàn toàn chấp nhận đề nghị của ta nhưng mãi đến ngày 27-6, ta mới nhận được bản danh sách đoàn đại biểu phía Pháp. Tuy nhiên, danh nghĩa và thành phần của đoàn này không đúng với quy định của Hội nghị Geneva và sự thỏa thuận giữa hai bộ tổng tư lệnh. Do đó, hội nghị quân sự giữa đại biểu hai bộ tổng tư lệnh không được khai mạc đúng ngày 28-6 như đã ấn định. Bởi hôm đó, sĩ quan liên lạc của ta phải tới gặp sĩ quan liên lạc của Bộ Tổng chỉ huy các lực lượng Liên hiệp Pháp ở Đông Dương để tiếp tục thảo luận cho rõ thêm về thành phần, danh nghĩa của phái đoàn họ và còn thống nhất các điều kiện để hội nghị quân sự tại chỗ được khai mạc”.

Cuối cùng, hội nghị chính thức khai mạc ngày 4-7-1954 tại Trung Giã (Sóc Sơn, Hà Nội), một địa điểm nằm trên Quốc lộ 3, cách trung tâm Thái Nguyên khoảng 30km về phía Nam. Đoàn đại biểu Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam tham dự hội nghị do Thiếu tướng Văn Tiến Dũng làm Trưởng đoàn. Đoàn đại biểu Bộ Tổng chỉ huy các lực lượng Liên hiệp Pháp ở Đông Dương gồm 8 sĩ quan do Đại tá Lennuyeux làm Trưởng đoàn. Hội nghị quân sự Trung Giã đã chuẩn bị tốt các điều kiện để những vấn đề về ngừng bắn, tù binh, tập kết quân đội... được giải quyết tương đối nhanh. Thế nhưng tại Geneva, vấn đề giới tuyến và thời hạn tổng tuyển cử lại kéo dài vì liên quan đến vấn đề lãnh thổ, chủ quyền, ý đồ chiến lược và quyền lợi các nước lớn.

Sinh thời, trong nhiều cuộc phỏng vấn báo chí, đồng chí Phạm Văn Đồng cho biết: Hội nghị Geneva mở ra ngay sau Chiến thắng Điện Biên Phủ và có sự can thiệp rất rõ của các nước lớn. Đặc biệt là thái độ của Mỹ. Mỹ phản đối hội nghị và cố gắng tìm mọi cách phá hoại. Thậm chí khi hội nghị đạt được kết quả thì Mỹ đã không ký. Dù tham gia hội nghị nhưng phái đoàn Mỹ khẳng định chỉ đóng vai trò quan sát và đưa ra tuyên bố riêng rằng họ không bị ràng buộc phải thi hành hiệp định. Điều đó giải thích cho những việc làm của Mỹ sau này khi cố gắng phối hợp với các nước phương Tây thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam. Tất cả điều này chúng tôi biết rất rõ và ở thời điểm đó đã cùng với Hà Nội cố gắng hết sức từng bước đạt được mục đích của mình để chuẩn bị cho chặng đường sắp tới.

Các cuộc trao đổi, tranh luận diễn ra căng thẳng trong nhiều phiên họp. Cho đến gần sát thời hạn Thủ tướng Mendès France cam kết với Quốc hội Pháp sẽ đạt được thỏa thuận, Trưởng phái đoàn Việt Nam Phạm Văn Đồng mới đồng ý “Vĩ tuyến 17 và thời hạn hai năm”. Cái gật đầu của ông đã giữ vững chiếc ghế Thủ tướng của Mendès France. Các bản hiệp định đình chiến ở Việt Nam, Lào, Campuchia được ký kết. Các nước tham gia hội nghị thông qua bản tuyên bố chung thừa nhận: Tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia. Quân đội Pháp phải rút khỏi các nước Đông Dương và mỗi nước Đông Dương sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước.

Tuyên bố trong phiên họp kết thúc hội nghị ngày 21-7-1954, Phó thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định: Hội nghị Geneva kết thúc với việc ký kết các hiệp định đình chỉ chiến sự ở Đông Dương. Đó là một thắng lợi to lớn của nhân dân nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa và nhân dân các nước Đông Dương, của nhân dân Pháp, của nhân dân châu Á, một thắng lợi to lớn của nhân dân yêu chuộng hòa bình. Đó là một thắng lợi to lớn của hòa bình... Sự ký kết hòa bình ở Đông Dương trên cơ sở nhìn nhận các quyền dân tộc của nhân dân Đông Dương là một thắng lợi của các dân tộc bị áp bức đang nêu cao ngọn cờ đấu tranh cho độc lập dân tộc và tự do dân chủ... Chúng tôi cần có hòa bình để thực hiện thống nhất quốc gia chúng tôi và bắt tay vào công việc kiến thiết. Chúng tôi sẽ thi hành thẳng thắn và triệt để tất cả điều ước của các hiệp định mà chúng tôi đã ký. Chúng tôi hy vọng rằng các bên liên quan khác cũng sẽ làm như thế. Tất cả chúng ta đều cần phải duy trì và củng cố hòa bình vừa đạt được.

Theo những nội dung quy định tại Hiệp định Geneva, Việt Nam tạm thời chia cắt thành hai miền và sẽ thống nhất sau ngày tổng tuyển cử diễn ra hai năm sau. Thế nhưng trước sự tráo trở của đế quốc Mỹ và tay sai, một nước Việt Nam độc lập, thống nhất Bắc-Trung-Nam như mong đợi chưa thể thực hiện được. Miền Bắc vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa trở thành hậu phương lớn, chi viện sức người, sức của để cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà thắng lợi vào 21 năm sau!

VĂN TÁM-QUANG THỊNH