Câu chuyện hôm nay tôi xin bắt đầu từ thời gian gần đây nhất-thời đồng chí Thiếu tướng Phạm Văn Huấn làm Tổng biên tập Báo QĐND. Đồng chí đề nghị tôi làm cộng tác viên của báo. Và tôi đã vui vẻ nhận lời, không chút đắn đo! Nói là cộng tác viên, thật ra ngoài việc viết bài cho báo, tôi còn được mời tham gia nhiều hoạt động khác, như: Chấm giải một số cuộc thi viết do báo tổ chức; dự các cuộc giao lưu nghệ thuật do báo tổ chức nhân kỷ niệm các ngày lễ lớn của Đảng, đất nước và quân đội; hơn nữa còn được là một trong những người có vinh dự ấn nút khai trương Chương trình Video-Audio của Báo QĐND và dự lễ công bố Quyết định triển khai đề án phát triển Báo QĐND theo mô hình cơ quan truyền thông đa phương tiện trong hệ thống báo chí cách mạng nước ta.

Tôi có ấn tượng sâu sắc về công tác cộng tác viên của báo. Đối với tòa soạn, cộng tác viên vừa là cánh tay nối dài, vừa là tai mắt, giúp Ban biên tập nắm bắt, nghe thông và nhìn thấu hơn thực tiễn cuộc sống. Hẳn nhận thức rõ điều đó nên Ban biên tập luôn có thái độ cởi mở, trọng thị và biết lắng nghe khiến mỗi cộng tác viên đều cảm thấy đến với báo như về nhà. Có lần tôi nói vui với các đồng chí ở báo: "Khi nào Báo QĐND cần, gọi thì Hà Đăng trả lời: Sẵn sàng!".

Ngược dòng thời gian, tôi xin ghi lại vài kỷ niệm khó quên.

Năm 1947, cách đây hơn 70 năm, tôi là Trưởng ban Tuyên truyền xã (xã Bình Kiến, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên), người đầu tiên gợi ý cho tôi đi vào con đường làm báo là một sĩ quan quân đội Nam tiến. Anh tên Nguyễn Thường Khanh, tức Trần Mai Ninh, một nhà báo kỳ cựu từ thời Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936-1939), lúc này đang công tác ở Phòng Chính trị thuộc Bộ tư lệnh Khu 6 (Nam Trung Bộ). Anh hỏi tôi: "Sau này cậu định làm gì? Nếu muốn làm báo thì theo tớ; nếu muốn học cao hơn nữa và vào đại học thì tớ khuyên nên học ngành điện. Lênin nói: “Chủ nghĩa xã hội là chính quyền Xô viết cộng với điện khí hóa”, đây là cái tiên tiến nhất thời đại".

leftcenterrightdel

Nhà báo Hà Đăng trò chuyện với phóng viên Báo Quân đội nhân dân. Ảnh: NGỌC MAI

Năm 1955, tập kết ra Bắc, vì là biên tập viên Báo Nhân Dân Liên khu 5 nên tôi được điều thẳng về nhận nhiệm vụ ở Báo Nhân Dân Trung ương. Do công tác ở Ban Nông thôn của báo nên tôi chú tâm vào đề tài sản xuất và hợp tác hóa nông nghiệp, ít có quan hệ với các vấn đề quân sự và Báo QĐND. Nhưng đến năm 1964 thì tình hình đổi khác. Cuối năm 1964, sau khi tốt nghiệp Trường Đảng cao cấp Liên Xô về, tôi được phân công làm Phó trưởng ban miền Nam của báo, chuyên viết về các vấn đề quân sự và chính quyền miền Nam. Lúc này, “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ đã thất bại, Mỹ chuyển sang một hình thái chiến tranh mới-“chiến tranh cục bộ”, trực tiếp đưa quân Mỹ và quân chư hầu vào miền Nam, lúc cao nhất lên đến hơn nửa triệu quân! Từ thể loại phóng sự, điều tra là chính, tôi chuyển sang viết các bài chính luận, thẳng tay vạch trần bộ mặt xâm lược của Mỹ và tay sai ngụy quyền Sài Gòn.

Cuối tháng 1-1968, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân nổ ra. Trong loạt bài xã luận, bình luận đã viết, tôi nhớ nhất bài “Quân giải phóng đã trả lời sự thách thức của Mỹ ở Làng Vây”. Làng Vây là một cứ điểm của địch ở phía tây Khe Sanh. Ở đó, Quân giải phóng đã lần đầu tiên đưa lực lượng xe tăng của mình vượt qua giới tuyến quân sự tạm thời, tiêu diệt gọn một chốt cứng trên tuyến phòng thủ của Mỹ mà chúng gọi là “hàng rào điện tử McNamara". Bài báo viết: “Mất vị trí Làng Vây, toàn bộ hệ thống cứ điểm của địch ở Khe Sanh trực tiếp bị uy hiếp dữ dội và số phận của nó như cá nằm trên thớt”. Bài báo đã bác bỏ luận điệu khoác lác của các tướng chỉ huy Mỹ rằng “gặm vào Khe Sanh, Việt Cộng sẽ bị gãy răng” và “phòng tuyến McNamara là bất khả xâm phạm!”.

Bài báo được dư luận đặc biệt hoan nghênh. Không ít người nghĩ rằng tác giả là người của cơ quan tham mưu quân đội. Thật ra, trong suốt quá trình cuộc tổng tiến công và nổi dậy, các bài bình luận trên Báo Nhân Dân và Báo QĐND đều hòa cùng một giọng, thể hiện mối quan hệ khăng khít giữa hai tờ báo lớn của Đảng và quân đội. Bản thân tôi, khi làm nhiệm vụ của mình, cũng được sự hợp tác và giúp đỡ của các đồng chí ở Cục Tuyên huấn và của Báo QĐND, trong công tác thông tin cũng như trong việc viết một số bài bình luận về các chiến công trên chiến trường mà Báo Nhân Dân đề nghị.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 mở ra một thời kỳ mới: Đất nước độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội. Tôi kết thúc gần 7 năm đặc cách tham gia mặt trận ngoại giao, từ cuối năm 1968 đến giữa năm 1975 (dự Hội nghị Paris về Việt Nam và làm công tác ở Ban chỉ đạo thi hành hiệp định tại Bộ Ngoại giao). Từ Báo Nhân Dân ra đi, tôi lại trở về với Báo Nhân Dân. Thoạt đầu, tôi được phân công vào nhóm thường trực của Ban biên tập; sau Đại hội V của Đảng là Phó tổng biên tập và sau Đại hội VI là Tổng biên tập.

Thời kỳ tôi làm Tổng biên tập Báo Nhân Dân cũng là thời kỳ đồng chí Thiếu tướng Trần Công Mân làm Tổng biên tập Báo QĐND. Anh là nhà báo kỳ cựu, tài năng và đức độ. Kế thừa truyền thống các bậc tiền nhiệm để lại, chúng tôi đã tiếp tục chăm lo cho mối quan hệ giữa hai báo ngày càng phát triển, đã tốt càng thêm tốt.

leftcenterrightdel

Nhà báo Hà Đăng. Ảnh: TRỌNG HẢI

Sau Đại hội VII của Đảng, tôi được cử làm Trưởng ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương; anh Mân thì nhận nhiệm vụ Phó tổng thư ký thường trực Hội Nhà báo. Giữa chúng tôi vẫn giữ quan hệ rất thân tình.

Trên cương vị Trưởng ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương, tôi càng có dịp tiếp xúc và làm việc với nhiều đồng chí lãnh đạo Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, nhất là về những vấn đề có liên quan đến lãnh đạo báo chí. Hồi đó, Tổng biên tập Báo QĐND là Đại tá Phan Khắc Hải (sau này là Thiếu tướng).

Kế tiếp đồng chí Phan Khắc Hải là các Tổng biên tập: Đặng Văn Nhưng, Nguyễn Quang Thống, Lê Phúc Nguyên. Riêng đồng chí Lê Phúc Nguyên thì với tôi là chỗ thân tình. Anh là con rể của nhà báo Lý Văn Sáu, người anh và là người đồng nghiệp thân thiết của tôi trong làng báo, là người phát ngôn của Phái đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam-Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris về Việt Nam. Trên Báo QĐND, tôi từng có bài viết về anh: “Lý Văn Sáu, nhà báo đầy nhiệt huyết, năng động và sáng tạo” kể lại rằng, ngay trong cuộc họp báo đầu tiên tại Hội nghị Paris, có nhà báo Mỹ đưa ra một tấm bản đồ khá lớn và hỏi người phát ngôn của ta: “Mặt trận của các ông thường khoe là kiểm soát tốt hai phần ba lãnh thổ Nam Việt Nam, vậy xin ông vui lòng chỉ cho tôi xem, trên tấm bản đồ này, vùng giải phóng đó ở đâu?”. Lý Văn Sáu lập tức trả lời: “Xin ông hãy đọc thông báo quân sự của Mỹ ngày hôm nay, xem máy bay của họ ném bom nơi nào ở miền Nam, những nơi ấy chính là vùng giải phóng của chúng tôi đấy!”. Nhiều tiếng vỗ tay tán thưởng trong phòng họp (vào thời điểm đó, quân Mỹ và chính quyền Sài Gòn liên tiếp mở những cuộc hành quân càn quét, đánh phá các vùng giải phóng của ta; máy bay Mỹ, kể cả B-52 ném bom khắp nơi, ngay cả ở Củ Chi, ngoại vi Sài Gòn).

Tiếp theo đồng chí Lê Phúc Nguyên là Tổng biên tập Phạm Văn Huấn như trên đã nói và các đồng chí đương nhiệm như Đại tá Đoàn Xuân Bộ-Tổng biên tập, các Đại tá: Đỗ Phú Thọ, Ngô Anh Thu, Trần Anh Tuấn, Phó tổng biên tập... đều là những gương mặt thân quen, sống có nghĩa, có tình.

Bài viết này có đầu đề “Cái duyên không tiền định” là có ý nói duyên nợ của tôi với Báo QĐND không phải do trời định mà là do bàn tay gây dựng của chính con người.

Trả lời phỏng vấn của Báo QĐND nhân kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống gần đây, tôi nói: Có hai tờ báo mà sáng nào, dù bận đến đâu, tôi vẫn dành thì giờ đọc, đó là Báo Nhân Dân và Báo QĐND. Báo QĐND là cơ quan của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, là tiếng nói của LLVT và nhân dân Việt Nam. Điều đó nói lên vị trí rất quan trọng của báo. Qua thực tiễn thực hiện nhiệm vụ của mình, trong suốt quá trình phát triển, nhất là trong giai đoạn hiện nay, Báo QĐND đã lập nên những thành tựu to lớn, đáng tự hào. Thật là:

Mông mênh đất rộng trời cao

Bảy mươi năm ấy biết bao nhiêu tình!

                                     Tháng 10-2020

HÀ ĐĂNG (Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương)