Tiểu đoàn 603, với danh nghĩa là “Tập đoàn đánh cá sông Gianh” đã tổ chức một chuyến vượt biển với 5 người con ưu tú mở đường, xuất phát từ sông Gianh (Quảng Bình) đúng chiều 30 Tết năm 1959, vào liên lạc để chi viện cho miền Nam. Chuyến tàu đầu tiên chủ động từ miền Bắc xã hội chủ nghĩa vào Nam đã không thành, 4 người trong số họ hy sinh, một người còn lại bị địch bắt giam ở Côn Đảo, khi tàu tuần tiễu của địch bắt được tàu ta một cách ngẫu nhiên ở ngoài khơi.

Sau chuyến đi bất thành ấy, một bức điện được phát đi từ cơ quan đầu não của Bộ Quốc phòng: “Gửi Trung ương Cục và tất cả các tỉnh ven biển miền Nam. Các tỉnh tổ chức cho thuyền bí mật vượt biển ra Bắc báo cáo tình hình bến bãi, tình hình địch bố phòng ven biển và tuần tiễu trên mặt biển. Rồi trực tiếp dẫn tàu vào”. Sau khi bức điện được phát đi, nhiều địa phương đã cử người ra Bắc. Khu ủy Khu 6 quyết định cử đồng chí Đặng Văn Thanh đem theo một lá thư ra Bắc, với nhiệm vụ: “Bằng mọi giá phải giữ được lá thư an toàn, nếu có phải hy sinh cũng không để rơi vào tay giặc. Ra Hà Nội chỉ được giao tận tay cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp”.

leftcenterrightdel
 

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đặng Văn Thanh.

Ảnh chụp lại

Sau 8 tháng vượt biển, tháng 8-1960, đồng chí Đặng Văn Thanh, một người con miền Nam được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đại tướng bắt tay rồi ôm chầm lấy đôi bờ vai đen sạm, rắn rỏi của anh Thanh. Đại tướng tự tay bóc thuốc lá và rót nước mời anh. Đại tướng hỏi thăm từ chuyện đi đường đến tình hình sức khỏe của anh Thanh, hỏi thăm các đồng chí, đồng đội và bà con trong đó. Bất chợt, anh Thanh đứng dậy, nghiêm trang, xúc động báo cáo: “Thưa Đại tướng! Anh Hiền dặn tôi thư này chỉ được đưa tới tận tay Đại tướng”. Đại tướng chưa vội xem mà bảo anh Thanh kể chuyện tình hình bà con ta trong đó sống thế nào? Địch hoạt động ra sao. Nhất là nói kỹ tình hình ven biển từ Khánh Hòa vào tới Mũi Đèn và phải thật cụ thể. Một sĩ quan tham mưu giúp việc dọn dẹp mặt bàn và trải lên một tấm bản đồ lớn. Đại tướng đưa cho đồng chí Thanh một cây bút chì mới gọt rồi bảo: “Đây, đồng chí báo cáo đi, nhớ chỉ rõ từng chỗ trên bản đồ...”. Đón nhận cây bút từ tay Đại tướng, anh đứng lặng trước tấm bản đồ khá lâu, người sĩ quan tham mưu khẽ nhắc: “Đồng chí Thanh cứ bình tĩnh nói đi!”. Anh quay sang Đại tướng, một thoáng đỏ mặt rồi ấp úng, lắp bắp một hồi mới nói được mấy tiếng: “Dạ... báo cáo... báo cáo Đại tướng... Tôi... Tôi không biết chữ ạ!”.

Căn phòng bỗng trở nên lặng ngắt, Đại tướng đứng lặng hồi lâu, giọt nước mắt lăn trên gò má. Đại tướng kéo anh lại gần rồi cầm lấy cây bút chì từ tay anh, ông nhẹ nhàng bảo anh: “Thế này nhé! Bây giờ tôi sẽ chỉ từng chỗ trên bản đồ, đồng chí sẽ kể cho chúng tôi biết rõ tình hình từng nơi. Đây, cái vạch đỏ này là Quốc lộ 1, đây là Phan Rang, đây là Phan Thiết. Còn chỗ có cái mũi nhọn này, Thanh nhìn rõ không, là Mũi Đèn. Còn đây là Vũng Găng, đây là Cà Ná...”. Cứ như thế, anh báo cáo rành rọt từng chỗ theo Đại tướng chỉ, đêm ấy họ gần như không ngủ. Anh không những kể cho Đại tướng về tình hình các nơi anh từng biết mà còn kể về cuộc đời anh, mồ côi cha mẹ từ nhỏ, 8 tuổi đã phải làm nghề lặn cá ở biển, 15 tuổi đi theo cách mạng, những ngày anh làm nhiệm vụ chở vũ khí bằng thuyền bí mật trong kháng chiến chống Pháp, các địa phương mà anh đã từng qua ở Nam Trung Bộ, có khi vô tận Cà Mau. Câu chuyện anh kể thỉnh thoảng bị ngắt quãng khi Đại tướng giục: “Thanh uống nước đi đã!” cho đến khi người sĩ quan tham mưu rời quyển sổ ghi chép và báo cáo Đại tướng đã hơn một giờ sáng. Đại tướng đứng dậy, ôm hai vai anh Thanh và khẽ khàng bảo: “Bây giờ đồng chí Thanh có hai nhiệm vụ tôi giao nhé, nhớ là phải hoàn thành cho kỳ được. Một: Chữa bệnh, bồi dưỡng cho thật khỏe. Tóc rụng hết rồi đây này! Hai: Phải đi học. Học chữ và học chuyên môn. Khi nào làm xong những nhiệm vụ đó thì báo cáo cho tôi biết. Thôi, đồng chí về đi. Nhớ đêm nay ngủ cho thật ngon đấy”.

Với một nhãn quan chiến lược và một tác phong cụ thể, Đại tướng đã nghe anh Thanh, chăm chú, thận trọng, những phương án đã được lập ra cho những con tàu không số rẽ sóng vào Nam chi viện cho đồng bào, đồng chí trong ấy. Từ đây, những con tàu đã chở hàng trăm rồi hàng nghìn tấn vũ khí xuất phát từ các bến ở cửa sông Gianh (Quảng Bình), cửa biển Đồ Sơn (Hải Phòng)... đã vượt biển thắng lợi. Số vũ khí được đưa vào các chuyến sau đã góp phần tạo nên sức mạnh cho miền Nam. Và cũng sau 3 tháng học tập, đồng chí Đặng Văn Thanh biết đọc, biết viết, anh được chuyển sang học hàng hải và trở thành Chính trị viên của Đoàn tàu không số. Với thành tích đặc biệt xuất sắc khi làm nhiệm vụ trên tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển, ngày 1-1-1967, Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho Chính trị viên Đặng Văn Thanh. 

QUÝ LÊ