Tại Trại Davis-nơi đặt trụ sở của phái đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, việc đấu tranh thi hành Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam cũng diễn ra với nhiều hoạt động. Lúc này, 60 ngày của Ban Liên hợp quân sự bốn bên đã kết thúc. Ban Liên hợp quân sự hai bên họp phiên đầu tiên ngày 29-3-1973.

Bấy giờ, Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu dù lớn tiếng tuyên bố lập trường “4 không” (không nhượng đất cho cộng sản; không trung lập; không liên kết với cộng sản; không thừa nhận cộng sản) nhưng vẫn phải ngồi lại họp bàn để làm vừa lòng “ông chủ” Mỹ. Theo lời kể của các cựu chiến binh từng hoạt động tại Trại Davis giai đoạn này, trước khi rời Trại Davis, Trung tướng Trần Văn Trà (sau này là Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng), Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam chủ trì phiên họp hai bên đầu tiên này. Phía ngụy quyền Sài Gòn, trưởng đoàn là Trung tướng Phạm Quốc Thuần.

“Nhằm phục vụ cho mưu đồ phá hoại Hiệp định nên đội ngũ sĩ quan của phái đoàn Việt Nam Cộng hòa được lựa chọn rất kỹ. Đó là những sĩ quan hợp thành từ các binh chủng sừng sỏ, gồm cả an ninh quân đội và thành phần kháng chiến cũ đầu hàng. Họ tìm hiểu lý lịch cán bộ ta khá rõ, phần nhiều dùng tình cảm và đời sống vật chất xa hoa để lung lạc cán bộ ta. Trước những cám dỗ, tất nhiên, chúng tôi vẫn vững vàng”, Đại tá Đào Chí Công, Trưởng ban liên lạc cựu chiến binh Ban Liên hợp quân sự-Trại Davis kể.

Theo hồi ức của Đại tá Đào Chí Công, từ cuối tháng 3-1973, hình thái hội nghị kéo dài, hai bên nặng về tố cáo lẫn nhau. Ta tố cáo nhiều hành động phá hoại với tần suất, mức độ khác nhau của địch, như hành quân lấn chiếm, giội bom, bắn pháo, phục kích điểm hẹn, tái đóng đồn, bốt... Còn phía bên kia tập trung làm lớn hai vụ nổi cộm là Tống Lê Chân và Ly Tôn (Quảng Trị).

“Tống Lê Chân là một đồn lẻ cấp đại đội, lấn chiếm sâu vào vùng giải phóng, bị ta bao vây, triệt đường tiếp tế, tải thương. Thời kỳ bốn bên, phía ngụy Sài Gòn cũng đã một lần đề cập đến vấn đề Tống Lê Chân. Họ lợi dụng thiện chí của ta cử sĩ quan liên lạc lên môi giới cho người chỉ huy hai bên gặp nhau để tải thương và tiếp tế đạn dược. Còn vụ Ly Tôn là một máy bay trực thăng của Ủy ban quốc tế bị rơi do bay sai hành lang quy định, làm 2 người Hungary và 2 người Canada thiệt mạng. Phía ngụy Sài Gòn công kích, buộc tội ta, đưa sự việc lên Ủy ban quốc tế giải quyết. Chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp trắng trợn tuyên bố nếu ta không giải quyết vấn đề thì Ban Liên hợp quân sự hai bên Trung ương không có gì phải bàn bạc. Dù biết rằng Ủy ban quốc tế có phần là công cụ để Mỹ lợi dụng, bao che cho phía Sài Gòn nhưng phái đoàn Hungary và Ba Lan hết lòng ủng hộ ta. Căn cứ theo nguyên tắc nhất trí chung, đoàn Hungary tuy bị thiệt hại, thương vong nhưng vẫn kiên trì thuyết phục Ủy ban quốc tế. Cuối cùng, kết luận lỗi đầu tiên do máy bay bay sai hành lang quy định. Bị thiệt hại thì họ kêu la, gửi công hàm thưa kiện, còn buộc rút thì họ lờ đi”, Đại tá Đào Chí Công cho biết.

leftcenterrightdel

Các cựu chiến binh từng hoạt động ở Trại Davis chia sẻ kỷ niệm trong chương trình giao lưu truyền thống, tháng 4-2025. Ảnh: BẢO CHÂU 

Trên thực tế chiến trường, từ cuối năm 1973, tình hình chiến sự ngày một lan rộng và quyết liệt. Hễ ta đánh lấn chiếm, chống phá bình định thắng lớn ở đâu đó thì khu vực doanh trại của ta ở Trại Davis bị trả đũa bằng cúp điện, nước. Để đối phó, phái đoàn ta phát động sản xuất tự túc và đào giếng lấy nước dùng. Ông Phan Đức Thắng, Phó trưởng ban liên lạc cựu chiến binh Ban Liên hợp quân sự-Trại Davis kể: “Phát hiện ta đào giếng, nghi đào địa đạo, địch cho máy bay OV-10 lên quan sát. Thậm chí chúng còn phun hơi cay vào Trại Davis. Khi bị tố cáo, chúng chối phăng là phun thuốc diệt mối. Kiên quyết phản đối hành động trả thù đó, ta ngừng họp. Đến tháng 7-1974 thì hai bên bỏ họp luôn”.

Trong thời gian diễn đàn liên hợp ở Trại Davis không còn, ta vẫn dựa vào văn bản đã ký kết tiếp tục đấu tranh trên truyền thông. Do đó, ta tạo được ảnh hưởng cho nhiều cuộc biểu tình của đồng bào các giới, đòi nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Paris. Có cuộc hàng trăm ký giả mang bị, gậy xuống đường, tạo thành phong trào “ký giả đi ăn mày” vang danh một thời. Hoạt động trên cũng trở thành một đòn chính trị như búa tạ giáng vào ngụy quyền Sài Gòn.

Qua lời kể của các cựu chiến binh, khi các chiến trường phản công mạnh việc bình định, lấn chiếm, nhất là sau khi Phước Long giải phóng, sức ép cũng như nguy cơ bị hủy diệt càng đè nặng xuống Trại Davis. Đối phương công khai đào hào giáp vòng sâu 5m, rộng 5m, cùng với xây dựng thêm hàng chục bốt gác. Tháng 4-1975, chúng còn tăng cường 1 đơn vị xe tăng và 1 đại đội bộ binh, phối hợp với trại huấn luyện sư đoàn dù khống chế Trại Davis ngày đêm nghiêm ngặt.

“Hình thái trận địa chiến ở Trại Davis đã rõ ràng. Việc chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu đối với đoàn ta bấy giờ phải nói rất kỳ công. Đó là một hệ thống giao thông hào liên hoàn, chia thành 7 khu vực tác chiến, 2 hầm chỉ huy, 1 hầm quân y... Tất cả được xây dựng bí mật bên trong trại. Quan trọng là vũ khí, đạn dược và cả mìn chống tăng cũng được chuyển từ căn cứ vào từ trước, lèn vào va li hành lý nhân chuyến đi đón hai thành viên của Indonesia và Iran trong Ủy ban quốc tế bị kẹt ở Buôn Ma Thuột về Lộc Ninh. Đáng kể nữa là đầu năm 1974, phái đoàn Hungary đã tặng ta một số súng nhỏ và cả 60 túi “chống lạnh” dùng trong trường hợp ngủ dã chiến”, ông Bùi Đức Hòa, nguyên Tiểu đội trưởng đặc công nhớ lại.

leftcenterrightdel

Cựu chiến binh Phạm Văn Lãi bên bức ảnh lịch sử ngày 30-4-1975. Ảnh: BẢO CHÂU

Qua lời kể của ông Hòa, Bộ tư lệnh Miền điện báo sẵn sàng phương án cử một đơn vị đặc công vào phối hợp với lực lượng tại chỗ đưa đoàn ra. Nhưng toàn bộ thành viên phái đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở Trại Davis sau nhiều cuộc bàn thảo nhận định thời cơ lịch sử đã đến, ngụy quyền Sài Gòn sẽ sụp đổ, ta nhất định giành toàn thắng. Trại Davis sẽ là cầu thương lượng mà nhiều người tìm đến. Vì vậy, đoàn điện về Bộ tư lệnh xin trụ lại với quyết tâm sẵn sàng chiến đấu. Nếu phải nổ súng vẫn nhìn thẳng kẻ thù, sẵn sàng hy sinh như một người chiến sĩ!

Đúng như nhận định của ta, thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên (mở màn ngày 4-3-1975) khiến ngụy quân Sài Gòn tan rã nhanh chóng. Đến khi Chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn, nỗi lo lắng của Bộ tư lệnh Miền đối với Trại Davis càng tăng lên. Trên thông báo cho các đơn vị có nhiệm vụ tiến công sân bay Tân Sơn Nhất biết tần số liên lạc với Trại Davis. Ngày 29-4-1975, Trại Davis đã bắt liên lạc được với một đơn vị xe tăng. Trong ngày 29-4 có 3 đoàn đại biểu của ngụy quyền Sài Gòn vào Trại Davis đặt vấn đề thương lượng...

Một điều tự hào là sớm hơn mọi chiến trường, từ khoảng 9 giờ ngày 30-4-1975, tại Trại Davis, cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã được treo lên cao. Người có vinh dự thực hiện treo lá cờ ấy là Thượng sĩ Phạm Văn Lãi, hiện vẫn còn sống. Ông Lãi kể, khoảng một giờ sau khi hoàn thành nhiệm vụ, có một đơn vị Quân giải phóng trang bị gọn nhẹ đã đến Trại Davis. Họ cho biết được lệnh vượt mọi trở lực, tiến nhanh vào để hỗ trợ đồng đội trong tình huống xấu nhất. Đến 11 giờ 30 phút, đơn vị đầu tiên của ta đã tiến chiếm sân bay Tân Sơn Nhất cũng đến Trại Davis.

“Niềm vui gặp mặt trào nước mắt. Trại Davis bấy giờ trở thành điểm hội tụ của các phóng viên nước ngoài, là nơi duy nhất của Sài Gòn còn nguyên vẹn hệ thống telex. Tôi nhớ có nhiều phóng viên nhờ chúng tôi dẫn đường đến gặp chỉ huy đề nghị cho mượn địa điểm, phương tiện để đánh đi những tin tức nóng hổi từ Sài Gòn về các hãng thông tấn của nước mình. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua nhưng mỗi khi nhớ lại, chúng tôi luôn thấy tự hào vì là một thành viên của Trại Davis. Tất cả đã kiên cường bám trụ và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử. Ngay sau giải phóng, chúng tôi được chuyển sang nhiệm vụ mới trong ban quân quản”, ông Lãi cho biết.

HUY HOÀNG - VĂN TÁM