Năm 1945, cách mạng thành công cũng là lúc người thiếu niên 15 tuổi Võ Thế Ái từ giã ngôi Trường Trung học Khải Định (Trường THPT Chuyên Quốc học Huế ngày nay) để lựa chọn con đường đi theo cách mạng, làm công tác liên lạc, đưa thư cho các đơn vị bộ đội từ Huế vào đến Khu 5. Năm 1950, ông ra Việt Bắc, rồi trở thành phóng viên của Nha Thông tin (cơ quan tiền thân của Thông tấn xã Việt Nam ngày nay).

Võ Thế Ái khi ấy mới 20 tuổi đã nhanh chóng hòa nhập với công việc, bí mật đi theo các đơn vị đánh đồn, bốt địch. Lăn xả trong mọi nhiệm vụ, các tin, bài của ông đã phản ánh không khí sục sôi kháng chiến đến ngày hòa bình được lập lại ở miền Bắc năm 1954. Từ năm 1957, Võ Thế Ái nhận nhiệm vụ ở Phân xã Khu 4. Đây cũng là khoảng thời gian tình yêu chớm nở giữa Võ Thế Ái và Nghiêm Thị Tú-cô gái Hà thành duyên dáng, thùy mị vừa được tuyển vào làm việc tại Việt Nam Thông tấn xã (Thông tấn xã Việt Nam ngày nay). Trong những lá thư đầu tiên viết cho người yêu Nghiêm Thị Tú, Võ Thế Ái đã kể về khoảng thời gian ông bắt đầu công tác ở đây. Phải bắt đầu công việc ở một nơi xa lạ, Võ Thế Ái đã bộc lộ một tính cách sôi nổi, ưa khám phá, ham hiểu biết rất cần có của bất cứ một người phóng viên nào: “Và con người nữa, con người có giọng nói hơi khác (lúc này, cơ quan Phân xã Khu 4 đặt tại thị xã Vinh, tỉnh Nghệ An-PV) nhưng cũng quần sồi áo vải, cũng một dáng dấp cần cù, cũng một tính cởi mở, vồn vã giống như tất cả những con người mà chúng ta đã gặp ở bất cứ một nơi nào trên những nẻo đường đất nước, từ Bắc chí Nam. Tuy chưa phải là người quen thuộc ở địa phương này, anh vẫn thấy mình hòa hợp được ngay với cảnh, với người” (thư gửi người yêu Nghiêm Thị Tú, ngày 16-2-1957).

leftcenterrightdel

Nhà báo Võ Thế Ái xem lại những tài liệu hồi còn công tác. Ảnh: KHÁNH AN

Từ năm 1960, Võ Thế Ái được cử vào Khu 5 công tác với nhiệm vụ xây dựng lực lượng cho Thông tấn xã Giải phóng. Chuyến đi ấy, ông đã làm công tác tư tưởng cho vợ từ trước đó nửa năm nhưng ngày lên đường cụ thể thì vẫn được giữ bí mật. Ông kể: “Tối 24 tháng Chạp năm Canh Tý (1960), tôi đáp chuyến tàu điện từ chỗ tập huấn về thăm nhà. Thấy vợ đang chuẩn bị giặt một đống tã lót, tôi vơ lấy đem đi giặt để vợ cho con bú (lúc này cháu mới được hơn 8 tháng tuổi). Sau đó, tôi ôm lấy con rồi gợi hỏi vợ hết chuyện này đến chuyện khác. Cô ấy nhắc chuyện tôi xin nghỉ phép để cùng nhau đi chợ Tết. Tôi ậm ừ cho qua rồi chuẩn bị một số thứ vào ba lô. Nhiệm vụ lần này tôi đã xác định tư tưởng từ lâu, cũng mong muốn trở lại chiến đấu ở quê hương sau bao năm đi xa nhưng chẳng hiểu sao khi từ biệt gia đình, bước chân xuống cầu thang, có một cảm xúc nghẹn ngào cứ dâng lên trong lòng. “Liệu mình còn có dịp gặp lại vợ con?”. Tôi quay lại vờ quên một số thứ rồi lén cầm chiếc áo lụa hồng bé xíu của con nhét vào ba lô, ôm hôn con thêm một lần nữa…”. Sau đó, vào đến tận Vĩnh Linh (Quảng Trị), ông mới viết thư báo tin đã “đi B” cho vợ.

Trở lại Khu 5, mảnh đất ông sinh ra và lớn lên, Võ Thế Ái đã len lỏi khắp các vùng địch hậu ở Bắc Quảng Nam để viết về tội ác của Mỹ-Diệm. “Hồi ấy chưa có điện đài, các bài tố cáo với đầy đủ chứng cứ, tên tuổi các nạn nhân được chúng tôi bí mật gửi ra cơ quan Việt Nam Thông tấn xã ở ngoài Bắc. Rồi hồi hộp chờ đợi những bản tin, phóng sự của mình được phát đi trên làn sóng điện, có khi sau đó hàng tháng trời!”-nhà báo Võ Thế Ái cho biết.

Trong những năm tháng này, có một niềm vui, niềm an ủi lớn với ông mà không phải đồng nghiệp nào cũng có được. Đó là chờ đón bản tin đọc chậm trên đài phát thanh. “Một buổi sáng mùa thu năm 1963, giữa rừng Trường Sơn, khi mở máy thu thanh đón ghi tin đọc chậm từ Hà Nội, tôi bỗng chú ý tới một giọng nói hết sức quen thuộc. Đến mục giới thiệu tên ở cuối buổi phát thanh thì không còn nghi ngờ gì nữa, đó là “nhà tôi”!”-nhà báo Võ Thế Ái nhớ lại. Về sau ông mới biết, cơ quan đã cử một nhóm biên tập viên sáng sáng qua Đài Tiếng nói Việt Nam đọc “bản tin đọc chậm”. Và đồng nghiệp đã thu xếp nhường cho bà đọc bản tin ấy như một cách “nối gần” khoảng cách giữa ông bà.

leftcenterrightdel

Gia đình nhà báo Võ Thế Ái trước khi ông vào chiến trường. Ảnh do nhân vật cung cấp.

Hai năm sau, nhà báo Nghiêm Thị Tú cũng gửi con, tình nguyện vào công tác tại chiến trường Khu 5. Ông vẫn nhớ vào một buổi sáng mùa thu năm 1965, vừa đi công tác về thì được tin phải đón một đồng nghiệp vừa từ ngoài Bắc vào. Và ông không khỏi xúc động khi biết đó là vợ mình. Hiểu rất rõ việc “đi B” là khát vọng cống hiến của các thế hệ nhà báo lúc ấy, nhưng trước quyết định dũng cảm của vợ thì ông vừa thương, vừa cảm phục. Nếu nhà báo Võ Thế Ái có hơn 10 năm gắn bó với chiến trường Khu 5 ác liệt thì vợ ông cũng có 4 năm chiến đấu bên chồng. Những ngày tháng ấy có biết bao kỷ niệm sống chết cận kề mà ông không thể nào quên. Trong đó có những lúc trên đường công tác, gặp máy bay địch, ông bà đã phải chia nhau chạy hai hướng để “có một người sống mà về với con!”...

Do khoảng thời gian ở chiến trường sợ bị ảnh hưởng của chất độc da cam/dioxin mà nhà báo Võ Thế Ái và vợ không dám sinh thêm con. Người con duy nhất của ông bà do đau ốm từ nhỏ không được chữa trị kịp thời nên đã mất sớm. Vài năm trước, bà Nghiêm Thị Tú cũng qua đời. Còn lại một mình, ông bán đi căn nhà là tài sản duy nhất để về sống ở Trung tâm Bảo trợ xã hội III, vui vầy với các bạn già cùng cảnh. Đến nay, nhà báo Võ Thế Ái đã bước sang tuổi 90. Trò chuyện với ông, chúng tôi vẫn nhận thấy ở ông một trí nhớ minh mẫn và tinh thần lạc quan, vui vẻ. Ông bảo, giờ đây không cảm thấy tiếc nuối điều gì, bởi những năm tháng ấy, ông đã được sống trọn đam mê với nghề, với đời!

PHẠM THU THỦY