Tôi là Trưởng phòng Phóng viên Báo Thanh Hóa, chuyên viết về chiến đấu và giao thông vận tải nên có mặt ở đây cả ngày hôm ấy. Ngày hôm sau, tôi đang sẵn sàng trở lại trận địa Hàm Rồng thì đồng chí tổng biên tập bảo tôi: "Cậu phải vào bến Ghép ngay, sẽ có sự kiện mới đấy".

Từ nơi cơ quan sơ tán vào trong đó chừng 20 cây số nên tôi tức tốc đạp xe đi ngay, rất may là đã kịp chứng kiến được tất cả sự kiện lịch sử ngày hôm ấy.

Những khẩu súng trường đã theo đội tự vệ ra bến. O Xuyến y tá, anh Phát mới điều trị ở bệnh viện về, các nhân viên thống kê, kế toán, văn phòng đều đã ra đường thu dọn bến bãi gọn gàng để chuyên chở đoàn xe pháo của Trung đoàn Pháo cao xạ 234 từ Nghệ An được lệnh nhanh chóng hành quân ra chi viện cho mặt trận Hàm Rồng. Tiếng máy ca nô lúc gầm gừ, lúc rú sôi lên, lúc lặng đi cho tiếng xích sắt miết vào be phà, kéo phà vào bến, đưa xe và hành khách lên bờ. Chiếc phà kềnh càng lại nổi tênh tênh, kè kè bên mạn ca nô, như con thoi dệt mãi trên mặt sông một cách kiên nhẫn. Trên bờ, Trưởng bến Trần Hữu Thôn vẫn không rời mắt khỏi chiếc đồng hồ đeo tay. Bác đang theo sát thời gian mỗi chuyến phà qua sông...

Bỗng có kẻng báo động. Không quân Mỹ được lệnh đi “rửa hận” Hàm Rồng bởi trận thất bại nặng nề hôm qua đã phát hiện có đoàn xe pháo đang qua bến Ghép.

Tiếng kẻng dồn dập. Tiếng hô bình tĩnh, chắc đanh từ trên bờ dội xuống bến. Vũ Như Quế, Hoàng Văn Sáng lật súng trường ra khỏi vai, lách cách đưa đạn lên nòng. Điểm ló đầu ra ngoài buồng máy nói như ra lệnh:

- Bình tĩnh! Ai bắn cứ bắn, bác Xu giữ vững tay lái.

Trên hai đầu bến, tiếng hô của các chỉ huy lại vang lên:

- Hướng... tầm... mục tiêu... Bắn!

Kia rồi! Chúng kia rồi. Hai cái, bốn cái, tám cái... kéo đến liên tiếp. Những khẩu đội đã sang được bờ bắc vừa hành quân vừa chiến đấu. Những luồng đạn từ những nòng pháo trên Đường số 1 lao lên diệt máy bay địch với những chuỗi tiếng nổ rung đất, hòa vào tiếng reo hò của nhân dân các làng hai bên đường, mừng vui chiến thắng khi những máy bay địch bốc cháy. Riêng khẩu đội 14,5mm do đồng chí Định chỉ huy, hạ càng súng ngay trên mặt đường chiến đấu với không quân Mỹ. Khói, bụi, cát trùm kín cả hai đầu bến. Cháy! Lại cháy nữa rồi. Một khối lửa sầm sầm lao xuống bãi bùn bờ bắc bến phà. Thủy triều đang lên. Gió nồm lồng lộng. Sóng sông Yên cồn lên, lớp lớp vồ vập vỗ vào mạn phà. Mắt Mai Xuân Điểm vẫn không rời những con “quạ sắt” trên đầu, tay ấn mạnh ga, số.

Các thủy thủ người nào người ấy đều ướt như chuột lột. Điểm lấy ống tay áo lau nước trên mặt, mắt chớp liền mấy cái, hét lên như ra lệnh:

- Khoan cập bến. Thả trôi! Chúng lao nữa kìa, tất cả nằm xu... ống!

Ngay lúc đó, 4 chấm đen từ cánh chiếc máy bay lao xuống. Tiếng máy ca nô gầm lên kéo hai con phà lao nhanh về phía trước. Bác Xu quay lại nhìn thấy 4 cột nước dâng lên ở ngay sau lái.

- Cập bến được rồi đấy. Các đồng chí lái xe máy đang nổ, cầu chạm bến là lao lên ngay.

Lại một chuyến phà nữa an toàn. 4 chiếc xe kéo 4 cỗ pháo lao lên bờ. Điểm giơ tay vẫy chào các pháo thủ:

- Bắn cho trúng nhé, chúc các đồng chí chiến thắng!

Máy ca nô lại nổ. Những chuyến phà chở xe pháo lại tiếp tục quá giang.

leftcenterrightdel
Minh họa: TÔ NGỌC

... Trận chiến đấu tạm lắng. Điểm, Quế, bác Xu lên bờ, vọt qua các hố bom. Ở chỗ mấy khẩu pháo, người xúm lại rất đông. Điểm thấy rõ lắm, người vác ngọn cây dừa đem cho bộ đội ngụy trang pháo là chị Thứa. Đứa chạy lon ton vác đạn cho bộ đội là cái Thịnh; người cầm lá cờ đỏ, tay đeo băng trắng là đồng chí chỉ huy bộ đội... Thế là trên mảnh đất này đã có người đổ máu. Đến trước hầm chỉ huy bến, mắt Điểm hoa lên và nhòa đi. Bác Thôn bị thương nặng quá, máu đổ ra nhiều, tay vẫn giữ lá cờ chỉ huy điều tiết xe lên xuống bến. Cặp mắt đờ dại của bác Thôn dán chặt vào Điểm, nói từng tiếng thều thào theo hơi thở yếu ớt:

- Đồng chí thay tôi...

Mắt bác Thôn đã khép lại. Trái tim bác Thôn đã ngừng đập! Điểm cắn chặt vành môi để khỏi bật ra tiếng khóc, nhưng nước mắt trào tuôn. Đưa bác Thôn vào trong hầm thì lại thấy anh Phát tử nạn nằm trong đấy, chắc là bác Thôn đưa vào đây.

Trận chiến đấu ở bến phà trở nên rất khẩn trương vì quân Mỹ không chịu bỏ cuộc. Điểm thống nhất với anh em trong bến và với đồng chí chỉ huy đơn vị pháo cao xạ sẽ rút bớt một phà để cơ động dễ dàng hơn. Tiếng kẻng báo động dồn dập, Điểm như một mũi tên lao xuống bến rồi rất nhanh tọt vào buồng máy. Những chuyến phà chở xe pháo lại tiếp tục sang sông.

Bị thua đau, giặc Mỹ càng lồng lộn điên cuồng, giở nhiều thủ đoạn. Chúng luôn thay đổi đội hình, bố trí thành nhiều tầng, nhiều tốp. Tốp này làm động tác giả cho tốp kia nhào xuống thả bom; lợi dụng ánh nắng chói chang của mặt trời, nhiều tốp cùng lúc nhào xuống trút bom đạn khắp cả mặt sông. Những khẩu pháo hai đầu bến vẫn đĩnh đạc nổ giòn giã cùng với những tiếng súng trường của dân quân các xã và tự vệ bến phà tạo thành lưới lửa dày đặc trên bầu trời bến phà Ghép.

- Anh Điểm, có người cần gặp bến trưởng.

Đó là một chiến sĩ trẻ măng, mặt mũi đầy bụi đất và khói đạn, giơ tay chào và nói:

- Báo cáo đồng chí, lệnh của ban chỉ huy đoàn ngừng cho bộ đội qua sông.

Điểm, Quế cùng các đồng đội nhanh chóng cho phương tiện về nơi cất giấu đã được chuẩn bị từ trước. Ngay lúc đó, không quân Mỹ lại mở đợt tấn công mới, hàng chục chiếc máy bay lao vào vùng trời bến Ghép, xa xa lại còn nhiều tốp lởn vởn, nhưng mục tiêu chúng tìm diệt đã mất hút.

Đưa ca nô và phà vào nơi cất giấu an toàn, vừa lúc đó có một công nhân như từ dưới lỗ chui lên, bùn đất đầy người, xồng xộc chạy vào:

- Anh Điểm ơi, có anh bộ đội thông tin cần sang sông.

Một người đứng gần đó quát lại:

- Không cần kíp chi cả. Qua sông bây chừ có mà lao vô cửa tử.

- Đừng nói thế!-Điểm gạt đi-Trong chiến đấu, không thể gián đoạn giao thông liên lạc được. Tôi và đồng chí Quế đưa ca nô ra bến, còn các đồng chí tất cả ra trận địa.

Bên bờ nam vẫn còn những khẩu đội chưa kịp sang sông, được lệnh ở lại phối hợp chiến đấu với dân quân tự vệ. Nhưng ban chỉ huy đã sang bờ bắc. Đường dây liên lạc bị gián đoạn, cần phải được nối lại để thống nhất chỉ huy chiến đấu.

Không quân Mỹ vẫn săn tìm mục tiêu là ca nô và con phà chở xe pháo. Điểm và Quế cho ca nô xuất hiện trên sông, cập bến đưa chiến sĩ thông tin sang bờ nam. Giặc Mỹ thay đổi chiến thuật, bay cao sợ pháo cao xạ, chúng liều mạng luồn xuống thấp rồi thả hàng loạt bom bi. Một quả trúng vào mạn ca nô. Chiến sĩ thông tin bị thương ở đùi, máu chảy loang ra ướt cả ống quần. Điểm bị nhiều viên bi đâm thủng mạng sườn trái, sây sát mặt và nhiều chỗ trên người... Máu ra nhiều, trước mắt Điểm như có ngàn vạn vì sao nhấp nháy. Anh lả đi, chân tay tê dại nhưng đầu óc vẫn còn tỉnh táo. Anh dùng toàn thân ấn lên tay ga tăng tốc cho ca nô lao vút vào bờ. Quế thả neo rồi lao vào buồng máy. Vừa nhìn thấy Quế, Điểm nói ngay:

- Chú để mặc tôi, lại băng bó cho đồng chí bộ đội.

- Đồng chí ấy đã đi làm nhiệm vụ rồi.

- Thế thì phải đưa ngay ca nô về âu cất giấu.

Quế tần ngần rơm rớm nước mắt.

- Đừng mềm yếu thế em, lại giữ tay lái đi!

Quế lầm lũi, gạt nước mắt nắm vô lăng. Điểm lại dùng toàn thân đè lên tay ga. Máu ở các vết thương vẫn chảy ròng ròng. Về đến nơi cất giấu phương tiện, Quế cởi áo băng bó cho Điểm, Điểm bảo Quế: “Bác Thôn đã hy sinh, tôi bị thương không làm được gì nữa, chú về ngay bên kia bảo vệ kho xăng”.

Điểm nhắc đến kho xăng, Quế mới nhớ ra việc quan trọng ấy. Không có xăng, mọi hoạt động của bến sẽ bị tê liệt. Quế gạt nước mắt nhìn Điểm một lần nữa rồi vớ cái phao bơi nhảy ùm xuống sông. Điểm cố gượng đứng lên, đè vết thương vào thành ca nô cho đỡ đau, dõi theo Quế. Quân địch phát hiện ra cái phao bơi và cái đầu người nhấp nhô trên mặt nước, chúng nhào xuống phóng rốc két và xả đạn 20mm. Cái phao ngập đi rồi lại nổi lên bập bềnh trên mặt nước. Chúng tiếp tục xả đạn, cái phao bị xé nát bay đâu mất. Quế đâu rồi? Lòng Điểm đau thắt lại. Quế mới 20 tuổi, một thanh niên nhanh nhẹn, tháo vát và gan dạ. A, nó kia rồi! Cái đầu húi cua của Quế nhô lên, nỗi đau trong Điểm vơi hẳn đi. Quế đã tận dụng triệt để tài bơi lội của mình, khi sải mình trên mặt nước, khi lặn xuống đáy sông, lặng lẽ vào bờ an toàn... Mất nhiều máu, đau khắp người nhưng Điểm vẫn tỉnh táo, tuy có lúc anh như thiếp đi vì mệt mỏi... Có tiếng mái chèo của một con thuyền đang lại gần...

- Anh Điểm ơi, anh đâu rồi?

- Ồ Quế, chú vẫn còn nguyên vẹn chứ. Kho xăng có việc gì không?

- Trúng một mảnh đạn, xăng phụt ra nhưng chưa kịp bắt lửa thì cũng vừa lúc em đến bịt lại được.

- Hay lắm. Ai đấy nữa? A bác Nhảy, anh em có ai việc gì không bác? Phương tiện còn nguyên cả chứ? Thế thì tốt. Tối nay còn phải chở bộ đội và xe pháo sang sông, nhưng phải lấp ngay mấy cái hố bom ở đầu bến thì xe mới lên xuống được.

- Bàn rồi! O Xuyến sang để băng bó sơ cứu cho cậu đấy.

- Thế à, tôi vẫn còn khỏe lắm.

Nhìn nét mặt tái nhợt, lem luốc dầu mỡ và những vết thương trên người Điểm, Xuyến đã nhận ra mức độ nguy hiểm đến chừng nào. Xuyến thấy lòng mình đau thắt lại. Cả ngày hôm nay, bên hông một túi cứu thương, khi ở bờ bắc, khi sang bờ nam, đến từng mâm pháo băng bó cho tất cả những người bị thương nhưng đến bây giờ, ngồi cuốn từng vòng băng cho Điểm-người đã ân cần giúp đỡ Xuyến như anh em ruột thịt, cô không chỉ đau đớn mà tê tái vì cô biết anh khó qua khỏi, bởi những vết thương quá nặng trên người anh.

- O thấy thế nào, tôi còn làm được thợ máy nữa không?

- Được anh ạ.

Nói xong, Xuyến vội bặm môi lại vì đã nói dối anh. Nước mắt cô từng giọt, từng giọt rơi xuống cuộn băng loang lổ máu. Nhưng lúc này trong Điểm lại rộn lên một niềm vui-niềm vui của người thợ không phải xa máy. Tiếng nước vỗ đều đều vào mạn thuyền, Điểm tưởng như nhịp đập hùng tráng của bài “Giải phóng miền Nam”-bài ca chiến thắng...

Đồng chí Mai Xuân Điểm quê ở xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa; bị thương ngày 4-4-1965, mất ngày 31-5-1965, được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân ngày 1-1-1967.

TRẦN HIỆP