Đại tá Lương Văn Thượng sinh năm 1930, tại làng Trường Long (nay thuộc xã Trường Long, TP Cần Thơ), là con thứ tư trong gia đình có 6 anh chị em. Ông Thượng kể: “Ba tôi mất năm 1939 vì bệnh, mình mẹ gồng gánh nuôi chúng tôi. Bấy giờ, chị Hai, anh Ba và đứa em kế đã thoát ly gia đình vào căn cứ, nếu tôi đi thì chỉ còn chị Tư và em trai út (nhập ngũ năm 1952). Tôi băn khoăn lắm nhưng vẫn xin phép và được mẹ đồng ý liền. Từ đó, tôi trải qua nhiều vị trí công tác ở Ủy ban Kháng chiến-Hành chính các huyện Giồng Riềng, Châu Thành... thuộc tỉnh Rạch Giá. Sau đó, tôi được phân công sang giúp bạn Campuchia”.

Năm 1954, sau thắng lợi của Hiệp định Geneva, ông Thượng phấn khởi chuẩn bị về nước tập kết ra Bắc thì cấp trên giao nhiệm vụ về miền Nam hoạt động. Ông bí mật hành quân từ Campuchia về tạm trú ở Hà Tiên. Tiếp đó lên kế hoạch một mình vượt đường dài về Cà Mau bắt liên lạc với tổ chức, giao tài liệu và nhận công tác mới. “Chưa thể hình dung về con đường phía trước của mình một cách đầy đủ nhưng tôi tuyệt đối tin tưởng cách mạng và cấp trên đã giao trọng trách này nên tôi luôn quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, dù phải hy sinh. Khi đó, vợ tôi, cùng tham gia cách mạng-đã sinh con trai đầu lòng và đặt tên là Lương Hoàng Vũ nên mọi người hay kêu tôi là “Ba thằng Vũ”. Vậy là bí danh Ba Vũ ra đời. Tới giờ, nhiều người vẫn gọi tôi là Ba Vũ, thậm chí không nhớ tên Thượng”, ông Thượng vừa nói vừa cười sảng khoái.

leftcenterrightdel
Đại tá Lương Văn Thượng kể về ngày đoàn viên gia đình Tết năm 1976. Ảnh: GIANG HỒ 

Năm 1967, tình hình chiến trường ngày càng ác liệt, lực lượng ta phát triển lớn mạnh nhưng chưa bảo đảm vũ khí chiến đấu. Trước tình hình đó,  Đoàn 17 (tương đương cấp trung đoàn) được kiện toàn làm nhiệm vụ tiếp nhận, vận chuyển vũ khí, khí tài, lương thực, thực phẩm, y tế... từ Campuchia về các mặt trận miền Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ và Tây Nguyên. Ông Thượng được bổ nhiệm làm Chính trị viên, Bí thư Đảng ủy Đoàn 17. Đặc biệt, ông được phiên quân hàm đại úy, chính thức trở thành cán bộ Quân đội.

Cuối năm 1975, Thiếu tá Lương Văn Thượng hoàn thiện chương trình học tập tại Học viện Chính trị. Sau đó, ông Thượng được điều động về Trường Quân chính Quân khu 9 (nay là Trường Quân sự Quân khu 9), phụ trách Khoa Giáo viên quân sự-chính trị. Thời điểm đó là cuối năm, ngoài các hội nghị tổng kết, đơn vị còn chuẩn bị các hoạt động mừng xuân mới. Đó là cái Tết đầu tiên không còn khói lửa đạn bom, không nơm nớp lo sợ chạy trốn máy bay địch phóng pháo, không còn chia cắt hai miền Nam-Bắc. Mọi người nô nức, tất bật chuẩn bị đón xuân dù còn nhiều khó khăn do chiến tranh tàn phá. Nhắc đến đây, ông Thượng bùi ngùi: “Tôi may mắn hơn bao đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại đâu đó trên cánh đồng, dòng kênh, trong những cánh rừng... không được chứng kiến thời khắc non sông liền một dải. Dù đất nước mới thống nhất, vết thương chiến tranh chưa kịp hàn gắn, thiếu thốn mọi thứ, nhưng niềm vui độc lập, tự do sáng ngời trên mặt mọi người, cờ phướn ngợp trời từ thành thị đến nông thôn. Ở Trường Quân chính, anh em tăng gia có cá, thịt, rau xanh; trong khi đời sống người dân Sóc Trăng còn thiếu hụt nhưng vẫn gói bánh tặng bộ đội như những năm kháng chiến. Tình cảm trọn vẹn ấy không gì đong đếm được”.

Những cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến đấu giải phóng quê hương như ông Thượng từng đón Tết trong rừng, căn cứ, trên chiến trường, thậm chí trong các nhà tù của địch. Vì vậy, mùa xuân năm 1976, khi quê hương không còn bóng quân xâm lược thật sự ý nghĩa và vui mừng. Với gia đình ông Thượng còn đặc biệt hơn. Đó là cuộc đoàn viên của đại gia đình ông. Từ người con trai thứ hai ra miền Bắc học văn hóa, đại học hơn 10 năm; con gái thứ ba mới 13 tuổi phải vượt Trường Sơn ra miền Bắc học tập; con trai thứ tư gửi về quê nội ở Cần Thơ chăm sóc; con gái út nhờ họ hàng bên ngoại ở Cà Mau nuôi nấng.

Theo ông Thượng, ngày đó, kinh tế đất nước còn khó khăn, cuộc sống của hầu hết gia đình đều chật vật. Ngoài tiền lương hạn hẹp, vợ ông Thượng phải tranh thủ trồng rau, nuôi heo kiếm thêm thu nhập lo cho các con để chồng yên tâm công tác. “Điều tôi nhớ nhất không phải thiếu đủ thứ so với bây giờ mà tinh thần phấn khởi đón Tết đầu tiên của nhân dân. Đường phố Cần Thơ rộn ràng lắm, bà con hồ hởi, hò reo mừng hòa bình, không còn cảnh chết chóc, đau thương bởi chiến tranh. Một mùa xuân khép lại quá khứ đau thương, mở ra trang sử mới cho dân tộc. Với tôi và nhiều đồng đội, đồng bào thì sau nửa thế kỷ, cái Tết đầu tiên ấy mãi là kỷ niệm đẹp, khó phai”, Đại tá Lương Văn Thượng nói.

HỒ KIÊN GIANG