Cụ Lê Hoằng sinh năm 1927, nguyên quán ở huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, hiện cư ngụ tại phường 5, quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh. Tiếp chuyện chúng tôi, cụ say sưa nói về võ học. Để minh họa cho lý thuyết các môn phái đã từng tu luyện, nói đến đâu, cụ thể hiện các đòn thế đến đấy. Tuổi già nhưng các động tác võ thuật, vận nội công của cụ vẫn rất uyển chuyển. Theo cụ, mục đích và triết lý tối thượng của võ học là để bảo vệ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Thời cụ đi học, các sư phụ đã dạy như thế và hiện nay càng phải thấm nhuần triết lý ấy. “Nếu học võ chỉ để tự vệ thì chưa đủ, để gây sự đánh nhau thì trái đạo. Thế hệ thanh niên chúng tôi ngày ấy là luyện võ công để có sức khỏe, bản lĩnh đi theo kháng chiến, đánh giặc. Muốn thắng giặc thì mình phải có sức mạnh. Muốn có sức mạnh thì ngoài việc lĩnh hội tinh hoa võ cổ truyền của dân tộc, phải học từ chính quân đội Pháp để đánh Pháp...”-cụ nói.

Từ nhỏ, thấy con trai hiếu động, thông minh, có bản lĩnh, cụ thân sinh của Lê Hoằng đã định hướng cho con trai đi theo lý tưởng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đặng giúp ích cho đất nước. Cụ gửi con vào một lò võ cách nhà hơn 5km, do một võ sư Thiếu Lâm phụ trách. Vừa luyện võ công, vừa học đạo làm người, Lê Hoằng nhanh chóng trở thành môn sinh xuất sắc của sư phụ. Ngoài học quyền cước và các tuyệt kỹ nội công của môn phái, sư phụ còn truyền dạy cho Lê Hoằng các kỹ thuật giao đấu binh khí như: Dao, côn, gậy, giáo, mác... “Người cha tôi thần tượng, nguyện suốt đời học tập, noi theo chính là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Cha dạy tôi rằng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sang Pháp để tìm đường cứu nước, học người Pháp để đánh đuổi thực dân Pháp thì thế hệ thanh niên cũng nên học chính người Pháp để tìm cách đánh đuổi họ ra khỏi bờ cõi giang sơn, giành độc lập. Sau khi kiểm tra trình độ võ thuật của tôi, cha tôi bảo tôi giỏi quyền cước, vận công và các kỹ thuật giao chiến, nhưng lực chưa mạnh. Lính Tây thằng nào thằng nấy khỏe như vâm. Mình phải có sức mạnh mới địch được nó. Bằng mối quan hệ rộng, có uy tín ở địa phương nên năm tôi 17 tuổi, cha tôi đã nhờ người tiếp cận, mời được Võ Đại Tác, là võ sư quyền Anh, huấn luyện viên võ thuật đơn vị hải quân của quân đội Pháp ở Thanh Hóa về dạy võ. Nghe nói, ông phải bỏ ra số tiền, vàng khá lớn”-cụ Hoằng nhớ lại.

leftcenterrightdel
Đại tá, cựu chiến binh Lê Hoằng.

Dù là sĩ quan trong quân đội Pháp nhưng Võ Đại Tác là người Việt Nam, rất có thiện cảm với môn sinh người Việt. Ông chỉ dạy cho môn sinh rất tận tình, trang bị cho Lê Hoằng những dụng cụ luyện võ đặc thù của môn quyền Anh. Học cùng lúc nhiều môn phái, lại có năng khiếu bẩm sinh, Lê Hoằng tiến bộ rất nhanh, kết hợp tinh hoa của từng môn phái, luyện cho bản thân những tuyệt kỹ võ học.

Năm Lê Hoằng 18 tuổi, võ sư Võ Đại Tác đưa học trò lên võ đài ở huyện Nông Cống tỉ thí. Đối thủ ta có, Tây có. Lê Hoằng lần lượt giành chiến thắng, trong đó có nhiều trận hạ đo ván đối thủ ngay trong hiệp một. Huyện Nông Cống chọn ông làm đại diện thi thố tài năng ở võ đài Thanh Hóa, có nhiều võ sĩ đến từ các tỉnh lân cận. Thượng đài trận đầu tiên với một võ sĩ trong quân đội Pháp, Lê Hoằng bị xử hòa trên thế thắng. Thầy dạy của ông, tay đấm Võ Đại Tác, vô địch ở giải đấu này. Khi đang chuẩn bị cho những trận thượng đài tiếp theo thì Lê Hoằng được cha gọi về giao cho Việt Minh, bí mật chuẩn bị khởi nghĩa. Lê Hoằng được chọn vào lực lượng tự vệ tinh nhuệ của Việt Minh ở Nông Cống, gồm 30 người. Sau một thời gian chuẩn bị, cuộc khởi nghĩa chính thức nổ ra. Khí thế giành chính quyền lan từ Hà Nội về các địa phương như sóng vỡ bờ. “Trong lúc các huyện khác khởi nghĩa giành chính quyền thành công từ ngày 18 đến 20-8-1945 thì ở huyện Nông Cống, tình hình khó khăn hơn nên phải đến ngày 21-8-1945 mới hoàn thành. Lý do vì ở địa phương có đồn điền Yên Mỹ (cách huyện lỵ Nông Cống khoảng 30km), là nơi bọn chủ đồn điền, quan lại và quân lính dồn về cố thủ. Chúng tôi được Việt Minh giao nhiệm vụ chiếm đồn điền này. Chúng tôi đi bằng xe đạp, vũ khí gọn nhẹ, men theo đường mòn dọc chân núi, sườn đồi tiếp cận mục tiêu. Đi được nửa đường thì một đồng chí trong đội bị ngã, hỏng xe, phải dừng lại. 29 người còn lại tiếp tục lên đường, có mặt tại đồn điền Yên Mỹ đúng kế hoạch. Chúng tôi làm lực lượng nòng cốt, thị uy vào trấn áp bọn chống đối, mở đường cho nhân dân địa phương khởi nghĩa giành chính quyền. Chúng tôi xông vào đồn, sử dụng võ thuật khống chế ngay những tên lính gác. Tôi quật ngã hai tên, tước vũ khí. Bọn lính thấy lực lượng tự vệ của Việt Minh thể hiện sức mạnh quyết liệt liền chấp nhận đầu hàng. Cùng lúc lực lượng khởi nghĩa cũng làm chủ các mục tiêu. Cuộc khởi nghĩa nhanh chóng giành thắng lợi”-cụ Hoằng kể.

Sau đó, Lê Hoằng được giao làm Chủ tịch kháng chiến xã Tế Tân, huyện Nông Cống, ủy viên quân sự huyện, ủy viên quân sự tổng. Cuối năm 1946, hưởng ứng Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Lê Hoằng tình nguyện nhập ngũ. Toàn huyện Nông Cống lúc bấy giờ có hàng trăm thanh niên làm đơn tình nguyện, nhưng đợt ấy chỉ chọn 40 người. Lê Hoằng có thành tích xuất sắc nên được ưu tiên lựa chọn trong tốp đầu. Ông gia nhập Trung đoàn 77 đóng ở Thanh Hóa. Nhờ giỏi võ, nói thành thạo tiếng Anh và tiếng Pháp nên ông được biên chế ngay vào phân đội trinh sát. Vừa huấn luyện, chiến đấu, Lê Hoằng vừa được đơn vị giao tham gia dạy võ thuật cho bộ đội trinh sát. Đơn vị ông bám rừng, chiến đấu liên tục ở Mặt trận miền tây Thanh Hóa, ngăn chặn quân địch tấn công từ Lào sang. Thời gian đã rất lâu nhưng cụ Hoằng vẫn nhớ như in những đợt xuyên rừng, xuyên đêm cùng đồng đội trinh sát nắm địch. Với tính chất nhiệm vụ đặc thù, phân đội trinh sát của Lê Hoằng phải thành thạo kỹ, chiến thuật, bí mật đột nhập, đánh nhanh, rút gọn khi có tình huống chiến đấu. Với trình độ võ thuật điêu luyện, lại được tôi rèn trong khói lửa chiến trường, Lê Hoằng đã lập được nhiều thành tích xuất sắc. Ông được đồng đội nể phục bởi tinh thần gan dạ, dũng cảm, sẵn sàng đánh giáp lá cà với những tên địch cao to gấp rưỡi mình. Trong quá trình làm nhiệm vụ, Lê Hoằng kiêm luôn vai trò thông dịch viên của đơn vị.

Tháng 6-1951, trước yêu cầu bảo đảm hậu cần cho các đơn vị, Lê Hoằng được lựa chọn tham gia khóa huấn luyện cán bộ hậu cần, tổ chức tại Thái Nguyên. Kết thúc khóa huấn luyện, ông được phân công vào đơn vị bộ đội hậu cần ở Bình-Trị-Thiên, bảo đảm cung cấp quân nhu, quân lương cho các đơn vị ở Chiến khu Ba Lòng. Kết thúc kháng chiến chống thực dân Pháp, ông được quân đội cử đi đào tạo bài bản sĩ quan hậu cần, tham gia công tác phục vụ chiến đấu và chiến đấu trong ngành hậu cần Quân đoàn 4 suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ông có nhiều năm giữ cương vị Chủ nhiệm Hậu cần Quân đoàn 4 trước khi nghỉ hưu.

Bài và ảnh: PHAN TÙNG SƠN