Đó là tâm sự của bạn tôi- một cựu chiến binh Quân Giải phóng miền Nam thời chống Mỹ, cứu nước - luật sư Trần Văn Sự, nguyên Phó chánh án Tòa án Nhân dân TP Hồ Chí Minh.

Nghe câu chuyện của anh, tôi càng thấy tình đồng đội của những người lính Cụ Hồ - những người đã trải qua các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc thật thiêng liêng, sâu sắc. Luật sư Trần Văn Sự kể:

leftcenterrightdel
Cựu chiến binh Phạm Ngọc Quý (bên trái) và tác giả.

Giữa năm 1970, gác chuyện vào đại học, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, chúng tôi lên đường nhập ngũ. Vào bộ đội, tôi có may mắn đóng quân ngay tại làng mình gần một tháng. Có trình độ tốt nghiệp cấp 3, nhanh nhẹn, chữ viết đẹp, tôi được chọn làm văn thư liên lạc của đại đội. Và, Chính trị viên phó đại đội Phạm Ngọc Quý là một trong những thủ trưởng đầu tiên trong cuộc đời quân ngũ của tôi.

Thủ trưởng Phạm Ngọc Quý quê ở Thái Thụy, Thái Bình. Năm 1963, tốt nghiệp đại học sư phạm, anh Quý về dạy học ở trường cấp 3 huyện Xuân Thủy (Nam Định). Tháng 8-1964, Mỹ mở rộng chiến tranh leo thang bằng không quân ra đánh phá miền Bắc, anh Quý tình nguyện nhập ngũ. Được bổ sung vào đơn vị pháo binh thuộc Sư đoàn 316, anh Quý cùng đơn vị sang Lào giúp bạn đánh địch ở Mặt trận Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Năm 1966, anh về học tại Trường Sĩ quan Pháo binh. Ra trường, anh được phân công vào chiến trường miền Đông Nam Bộ làm nhiệm vụ bảo vệ Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam (Bộ chỉ huy Miền). Cuối năm 1969, bị thương, anh Quý ra Bắc điều dưỡng. Sau đó, anh được bổ sung về làm chính trị viên phó đại đội nhận quân và huấn luyện quân bổ sung cho chiến trường. Mới nhập ngũ, như trang giấy trắng, được tiếp xúc với một người lính dạn dày trận mạc như anh Quý, chúng tôi vô cùng tự hào và ngưỡng mộ.

Trước khi nhập ngũ là thầy giáo cấp 3, đi bộ đội tham gia chiến đấu là thương binh, chiến công “đầy mình” nhưng anh Quý vẫn bình dị, gần gũi với mọi người. Ngoài giờ lên lớp, dạy cho chúng tôi những bài học đầu tiên của người lính Cụ Hồ, anh Quý tham gia các công việc thường ngày của đơn vị. Đối với tôi, anh Quý không chỉ là thủ trưởng đầu tiên mà còn là một người thầy, người anh mẫu mực. Tôi nhớ mãi giữa năm 1971, trước khi hành quân vượt Trường Sơn vào Nam Bộ đánh giặc, tôi được dự lễ cưới của anh Quý và chị Diên. Chị Diên là con liệt sĩ thời chống Pháp, cùng quê với anh Quý. Đó là một nữ sinh duyên dáng, nết na, vừa tốt nghiệp Khoa Chế tạo máy, Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên. Anh chị yêu nhau đã 7 năm. Chị Diên vừa học vừa chờ đợi anh Quý khi anh đi chiến đấu hết chiến trường C (Lào) rồi đến chiến trường B2 (Nam Bộ), chiến trường Quảng Trị...

leftcenterrightdel
Quân nhân Phạm Ngọc Quý và vợ-Kim Diên, năm 1971. Ảnh do nhân vật cung cấp

Tôi nhớ mãi, trước lễ đón dâu, từ Thái Thụy (Thái Bình), tôi được phân công ra thành phố Nam Định mua hoa cưới. Anh Quý chu đáo chuẩn bị cho tôi mọi thứ và dặn: “Ra đó, cậu cứ nói mua hoa cưới là người ta sẽ bán cho”. Lúc ấy, cuộc leo thang bằng không quân của Mỹ ra miền Bắc đang diễn ra ác liệt. Trời nắng như đổ lửa, tôi đạp xe mấy chục cây số ra cửa hàng hoa trên đường Trần Hưng Đạo, thành phố Nam Định-một trọng điểm đánh phá của địch. Tôi nói với người bán hoa như anh Quý dặn. Sau khi hỏi tôi từ đâu đến, đoạn đường bao xa, người bán hoa gói cho tôi một bọc lớn, dặn rằng về nhà bày hoa trên đĩa có nước.

Xế chiều, về đến nhà, tôi đưa bọc hoa cho anh Quý. Thủ trưởng của tôi há hốc miệng, mắt tròn xoe bảo rằng: “Trời ơi, chú em, chiến sĩ trẻ của tôi. Đây là hoa...”. Mặc dù vậy, thời chiến, lễ cưới có hoa là quý rồi. Hôm sau, các đĩa hoa đó đã góp phần làm cho lễ cưới của anh chị thêm sang trọng, rực rỡ.

Gần đây, gặp lại thủ trưởng cũ của tôi, anh Quý mới tiết lộ lúc đó không dám nói, sợ xui. Thời ấy, hoa bày đĩa người ta chỉ dùng cho đám hiếu (?!). Tôi nghe mà rụng rời hết cả chân tay.

Thế mà sau đám cưới, anh chị Quý-Diên không xui mà còn may mắn nữa. Cô dâu, chú rể yêu thương nhau mặn nồng, say đắm. Chỉ ít ngày sau lễ cưới của anh chị, chúng tôi được lệnh bổ sung vào chiến trường. Tôi chia tay thủ trưởng vượt Trường Sơn vào Nam Bộ, còn thủ trưởng Quý của tôi sau đó cũng lên đường vào Mặt trận Đường 9 - Nam Lào. Những ngày ở chiến trường, là chính trị viên đại đội, anh Quý bám sát đơn vị “quần nhau” với nhiều tiểu đoàn địch, trong đó có lính viễn chinh Thái Lan nống ra chặn Đường Hồ Chí Minh. Thêm một lần nữa, thủ trưởng Quý của tôi bị thương. Do vết thương nặng, năm 1974 ra Bắc, anh Quý được bổ sung vào đơn vị làm kinh tế, xây dựng cầu Thăng Long. Năm 1979, chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra, anh Quý trở lại đơn vị chiến đấu với cương vị là Trưởng ban Tuyên huấn Sư đoàn 338 bảo vệ mốc 54, Chi Ma, Lộc Bình, trực tiếp cùng đơn vị chỉ huy bộ đội chiến đấu bảo vệ biên cương. Năm 1982, anh được điều về làm trợ lý Phòng Khoa học quân sự, Bộ Tham mưu Quân khu 1. Năm 1988, với quân hàm Đại úy, thủ trưởng Quý của tôi nghỉ hưu. Với truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, anh Quý lại tiếp tục tham gia công tác xã hội và đau đáu nhớ về đồng đội, nhớ về một thời đánh giặc.

leftcenterrightdel
Cựu chiến binh Phạm Ngọc Quý và vợ (ở giữa) trong buổi gặp mặt đồng đội cũ. Ảnh: THẾ TRẦN

Bẵng đi mấy chục năm, mới đây, tôi gặp lại thủ trưởng cũ. Gần bước sang tuổi bát tuần, anh Quý vẫn tráng kiện, nhanh nhẹn. Trong chuyến thăm lại chiến trường xưa, chúng tôi gặp nhau tại Thành phố mang tên Bác. Thật vui, trong đoàn có cả vợ anh, chị Diên - cô sinh viên năm nào. Gần nửa thế kỷ trôi qua, chị Diên vẫn duyên dáng, phúc hậu. Chị kể cho chúng tôi nghe kỷ niệm tình yêu của anh chị và nỗi vất vả, gian nan của người mẹ, người vợ có chồng đi chiến đấu nơi chiến trường xa. Vào dịp đầu Xuân Canh Tý vừa qua, từ TP Hồ Chí Minh, chúng tôi ra thăm anh chị Quý tại Hà Nội. Trong căn hộ chung cư nằm ở ngoại ô thành phố, gia đình thủ trưởng cũ đã đón chúng tôi thật thân tình, ấm áp như đón người thân yêu đi xa trở về. Chị Diên đi chợ thật sớm. Tự tay chị nấu những món ăn đậm đà “cây nhà lá vườn” nhưng thật hấp dẫn, ngon miệng. Thủ trưởng cũ của tôi hết vào lại ra bồn chồn đợi khách và không quên lục tìm trong bộ sưu tập kỷ vật những tấm ảnh, lá thư, bài thơ anh viết cho chị Diên và cho những người lính trẻ như chúng tôi cách đây mấy chục năm. Sau bữa cơm gia đình ấm cúng, theo đề nghị của chúng tôi, chị Diên lần đầu công bố “tài liệu tối mật” của anh chị. Đó là cuốn nhật ký và những tập thư anh chị gửi cho nhau, được đánh số thứ tự từ 1 đến 225.

Không có nhiều thời gian để đọc hết những dòng nhật ký, những bức thư ấy. Dù chỉ lướt qua nhưng chúng tôi đã thấy hiện rõ “chân dung” một mối tình của người lính thời chống Mỹ, cứu nước thật lãng mạn, dạt dào, tha thiết. Trong lá thư mang mã số 47 được gửi đi từ hộp thư: 705020TA 01, anh Quý da diết: “Kim Diên thương yêu duy nhất của chồng em! Bây giờ là 5 giờ chiều ngày 22-12-1972, tàu đang chuyển bánh đưa các anh vào Nam chiến đấu. Chặng đường trước mặt sẽ vô cùng gian nan, khốc liệt. Nhưng cũng chưa thể sánh với ngoài đó. Đài vừa báo tin giặc Mỹ ném bom B-52 hòng hủy diệt Thủ đô Hà Nội. Em ráng giữ gìn sức khỏe nhé...”. Rồi nét chữ của anh Quý (đôi khi điểm vài từ tiếng Nga) bay bướm cứ như anh đang thủ thỉ, tâm sự cùng người vợ trẻ: “À này, nếu lần gặp vừa rồi có “kết quả”, em ở nhà thay chồng nuôi dạy con nhé! Hãy đợi anh về sau ngày chiến thắng...”. Chẳng biết lần gặp ấy của anh chị có “kết quả” không, nhưng hôm nay tiếp chúng tôi, con cháu của anh chị đầy nhà. Ngọc Anh, con gái lớn của anh chị nay đã là trung tá, đang công tác tại cơ quan Bộ Công an cũng tranh thủ về tiếp chúng tôi. Các cháu của anh chị, gương mặt sáng bừng vui theo câu chuyện xưa cũ mà thấm đẫm tình yêu, tình đồng đội của ông bà...

Nửa thế kỷ gặp lại, chuyện tình yêu, chuyện tình nghĩa đồng đội của thủ trưởng cũ làm chúng tôi sống lại một thời đẹp nhất. Tôi bỗng nhớ lại kỷ niệm ngày mua hoa làm lễ cưới cho thủ trưởng cũ cách đây gần 50 năm. Tình yêu của anh chị Ngọc Quý - Kim Diên, thủ trưởng cũ của chúng tôi mãi tươi nguyên, ngát thơm như những cánh hoa giữa một thời chiến tranh gian nan mà kiêu hãnh.

Ghi chép của TRẦN THẾ TUYỂN