Lời hịch cứu nước

Ngay trong Tuyên ngôn Độc lập (ngày 2-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể nhân dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.

Thực hiện lời thề thiêng liêng đó, nhân dân Việt Nam đã kiên cường tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp gian khổ và làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”. Tuy nhiên, Hiệp định Geneva (tháng 7-1954) đã bị đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai trắng trợn xóa bỏ. Nhân dân Việt Nam buộc phải tiến hành cuộc kháng chiến chống chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ. Trước cuộc chiến tranh hoàn toàn “không đối xứng”, một câu hỏi lớn được đặt ra: Việt Nam có dám đánh Mỹ hay không và nếu đánh thì đánh bằng cách nào? Và đây là câu trả lời của Đảng ta dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Mặc dầu đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân đội viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn... Nhân dân ta đã có cơ sở chắc chắn để giữ vững và tiếp tục giành thế chủ động trên chiến trường, có lực lượng và điều kiện để đánh bại âm mưu trước mắt và lâu dài của địch”(1).

Để chuẩn bị tư tưởng cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân bước vào giai đoạn chiến tranh khốc liệt nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước. Ngày 17-7-1966, lời hịch cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh được truyền tải trên Đài Tiếng nói Việt Nam đã lay động mạnh mẽ tâm hồn mỗi người dân đất Việt. Lời kêu gọi của Người đã đi vào lịch sử, thể hiện tinh thần chủ đạo “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Tác phẩm này chính là sự kế thừa và phát huy tinh thần “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” mà Người đã thể hiện trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” từ 20 năm trước (1946). Chỉ trong hai thập kỷ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hai lần viết lời hịch cứu nước, là “hồi kèn xung trận” thúc đẩy nhân dân Việt Nam kiên quyết, kiên trì đấu tranh thống nhất nước nhà.

Âm hưởng chủ đạo của lời hịch chống Mỹ, cứu nước

Người mở đầu Lời kêu gọi bằng việc chỉ ra nguồn gốc sâu xa của cuộc chiến tranh ác liệt đang diễn ra ở Việt Nam do “đế quốc Mỹ dã man, gây ra chiến tranh xâm lược hòng ăn cướp nước ta”, ngụy quyền, ngụy quân ở miền Nam Việt Nam lúc ấy chỉ là chính quyền tay sai, đội quân đánh thuê. Tiếp đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định việc “leo thang” chiến tranh của đế quốc Mỹ bằng chiến lược Chiến tranh cục bộ chỉ là sự cùng quẫn, khác nào con thú bị thương nặng, giãy giụa một cách hung tợn trước hơi thở cuối cùng. Mở đầu tác phẩm bằng việc tố cáo tính phi nghĩa và sự hiếu chiến của đế quốc Mỹ, Người đã nêu cao tính chính nghĩa của nhân dân Việt Nam và tạo cơ sở pháp lý cho lời hiệu triệu.

Là lời hịch kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nên âm hưởng chủ đạo của tác phẩm là sự khẳng định ý chí chiến đấu đến cùng của dân tộc Việt Nam và chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Với sức mạnh của một siêu cường, đế quốc Mỹ có thể đem đến nơi đây vũ khí, tiền bạc và quân đội, nhưng điều chúng không thể đem đến là nỗi sợ hãi hay sự khuất phục. Thấu hiểu ý chí chiến đấu ngoan cường của con người Việt Nam nên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ”(2). Để nhấn mạnh và cũng để lý giải ý chí chiến đấu ngoan cường của dân tộc Việt Nam, Người đúc kết chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”(3). Đó không chỉ là triết lý nhân sinh của Hồ Chí Minh mà còn là lẽ sống của dân tộc Việt Nam và chân lý vĩnh hằng của nhân loại.

leftcenterrightdel

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, ngày 17-7-1966. Ảnh tư liệu

Kế thừa tinh thần trượng nghĩa của dân tộc, cho dù sẵn sàng chiến đấu đến hơi thở cuối cùng vì nền độc lập thiêng liêng của Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn mở ra “cánh cửa hòa bình” là Mỹ phải rút hết quân đội và chư hầu ra khỏi Việt Nam. Một siêu cường mang quân đi đánh một nước nhỏ mà không thắng tức là đã thua nên chiến tranh càng kéo dài thì nước Mỹ càng bị tổn hại về mọi mặt, trước hết là danh tiếng, uy lực. Con đường đi đến độc lập, tự do của dân tộc nhỏ rất gian nan, phải trải qua nhiều “khúc quanh” đầy máu và nước mắt nên để động viên nhân dân bền gan, bền chí chiến đấu, hy sinh, Bác đã khẳng định sự tất thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Niềm tin khoa học, ý chí cách mạng tiến công mà Bác truyền đi đã trở thành điểm tựa tinh thần vững chắc để nhân dân Việt Nam đồng lòng chiến đấu, hy sinh và đi đến ngày toàn thắng.

Là người có niềm tin mãnh liệt vào lương tri nhân loại nên trong Lời kêu gọi, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn kêu gọi sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới để sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đi đến thắng lợi hoàn toàn. Hơn bao giờ hết, sự ủng hộ đó sẽ là minh chứng cho sự “lên ngôi” của cái thiện so với cái ác, của lương tri, lẽ phải trước sự tham tàn, bạo ngược của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân.

Kỳ tích quá khứ, định hướng tương lai

Lời hịch cứu nước với chân lý bất hủ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành động lực tinh thần vĩ đại để nhân dân Việt Nam kiên trì tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ngay cả khi Bác đã đi xa. Thực hiện Lời kêu gọi của Người, rằng đồng bào và chiến sĩ cả nước anh dũng tiến lên, nhân dân Việt Nam đã lần lượt “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Nhờ đó, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên phạm vi cả nước đã được hoàn thành, giang sơn thu về một mối và kỷ nguyên mới-kỷ nguyên hòa bình, độc lập, thống nhất và cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội-được mở ra. Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lưu giữ một thời lửa đạn và những chiến công hiển hách của dân tộc.

Không chỉ có ý nghĩa lịch sử, lời hịch cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn gợi mở những bài học quý báu cho muôn đời sau. Độc lập, tự do là giá trị bất biến, là mục tiêu tối thượng của dân tộc Việt Nam nên mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đều phải thấm nhuần tinh thần đó và phải phục vụ cho mục tiêu cao cả đó. Tuy nhiên, chúng ta không thể giữ nước chỉ bằng ý chí nên phải gia tăng thực lực về mọi phương diện, đặc biệt là thực lực về kinh tế, nhưng sự phát triển kinh tế-xã hội phải luôn gắn kết với mục tiêu quốc phòng, an ninh theo hướng tích hợp và lưỡng dụng. Chúng ta phải giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc, vì trong một thế giới hội nhập, văn hóa chính là “thẻ căn cước” của từng dân tộc, giúp dân tộc ấy tránh được nguy cơ đồng hóa và đủ năng lực tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại. Sự nghiệp đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng luôn luôn gắn với nhân dân: Khởi nghĩa toàn dân, chiến tranh nhân dân, nền quốc phòng toàn dân, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân... nên muốn bảo vệ nền độc lập dân tộc thì nhất thiết phải chăm lo cho hạnh phúc nhân dân, coi đó là kế sách “sâu rễ, bền gốc” để giữ nước.

Bằng việc khái quát lên chân lý thời đại “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa chủ nghĩa yêu nước Việt Nam lên một tầm cao mới, đưa dân tộc Việt Nam trở thành biểu tượng cao quý của khát vọng độc lập, tự do. Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng âm hưởng hào hùng của lời hịch cứu nước 60 năm về trước mãi mãi là niềm tự hào chính đáng và là động lực tinh thần to lớn để dân tộc Việt Nam tự tin, tự chủ, tự cường tiến lên phía trước.

 GS, TS TRẦN THỊ MINH TUYẾT

(1)  Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, H, 2003, tập 26

(2), (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 15, tr.131