Có một câu chuyện lịch sử gắn với Sài Gòn - TP Hồ Chí Minh, mở đầu từ bác sĩ Trần Hữu Nghiệp. Ông là một trong những trí thức yêu nước của Nam Bộ dấn thân theo cách mạng, tham gia Việt Minh ngay khi cách mạng thành công, có mặt tại Thủ đô Hà Nội đầu năm 1946. Ngày 25-8-1946, trong cuộc gặp mặt cán bộ và đồng bào Nam Bộ, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp đã trình bày báo cáo tổng kết tình hình Nam Bộ sau một năm kháng chiến, nói rõ tình cảm trân quý của Nam Bộ đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và đề xuất ý tưởng đổi tên Sài Gòn là TP Hồ Chí Minh. Đề xuất đó chuyển thành bản kiến nghị với 57 chữ ký, đứng đầu là bác sĩ Trần Hữu Nghiệp, cùng với nhiều trí thức và đại diện của các tầng lớp nhân dân gửi đến Quốc hội, Chính phủ nêu rõ nguyện vọng để thành phố Sài Gòn được mang tên lãnh tụ kính yêu.
30 năm sau, cuộc Tổng tuyển cử ngày 25-4-1976 bầu Quốc hội chung cả nước. Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội đã dành ngày 2-7-1976 thảo luận và ra những quyết định để hoàn thành thống nhất nước nhà về mặt nhà nước, trong đó có một quyết định lịch sử chiểu theo tâm nguyện của nhân dân Nam Bộ. Báo Cứu quốc ngày 27-8-1946 ghi rõ: “Xin Quốc hội và Chính phủ trung ương đổi ngay tên thành phố Sài Gòn lại làm tên Thành phố Hồ Chí Minh để tượng trưng sự chiến đấu, hy sinh và cương quyết trở về với Tổ quốc của dân Nam Bộ”.
Nghị quyết ngày 2-7-1976: “Xét rằng nhân dân thành phố Sài Gòn-Gia Định luôn luôn tỏ lòng kính yêu vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và tha thiết với việc Thành phố mang tên Người; xét rằng trong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài và gian khổ, thành phố Sài Gòn-Gia Định đã không ngừng phát huy truyền thống kiên cường, bất khuất của dân tộc ta, lập nhiều chiến công xuất sắc, xứng đáng được vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”; Quốc hội đã quyết nghị “Chính thức đặt tên thành phố Sài Gòn-Gia Định là Thành phố Hồ Chí Minh”.
    |
 |
| Bến Nhà Rồng (Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh TP Hồ Chí Minh). Ảnh: XUÂN CƯỜNG |
Từ đó thành phố càng xứng danh được mang tên Bác Hồ kính yêu. Không gian thành phố 50 năm đã phát triển mở rộng từ 17 quận, huyện nội, ngoại thành (tháng 7-1976), đến 24 quận, huyện (năm 2020); tháng 7-2025 đã trở thành “siêu đô thị” rộng hơn 6.773km2 (gấp 4,5 lần so với năm 1976), chiếm tỷ lệ 2,04% diện tích cả nước; dân số 13,6 triệu người (chiếm 13,4% dân số cả nước).
Những năm sau chiến tranh (1975-1976), thực hiện công cuộc giãn dân, đưa dân trở về quê cũ làm ăn, tổ chức cho gần 30 vạn dân về các vùng kinh tế mới, thành lập 94 xã mới. Nông thôn ngoại thành tập trung tháo gỡ bom mìn, khai hoang, phục hóa, làm thủy lợi, thực hiện thâm canh tăng vụ, biến “vành đai trắng” ngoại thành thành “vành đai xanh”. Cùng với việc tiếp quản 38.000 cơ sở sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, thành phố thực hiện quốc hữu hóa tài sản tư sản mại bản và gian thương, hồi phục 400 xí nghiệp quốc doanh, 14.000 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Vậy nên GRDP của thành phố năm 1976-1980 tăng bình quân 2,2%/năm.
Từ điểm xuất phát ấy, thành phố không chấp nhận những khó khăn ràng buộc “tự trói chân tay” do cơ chế cũ tạo ra; cuộc tự tháo gỡ khó khăn, tự tìm cách giải phóng sức sản xuất đã được lãnh đạo thành phố “bật đèn xanh”. Hàng loạt công ty, xí nghiệp những năm 1978-1980 đã liên kết với các tỉnh khai thác nguyên liệu, trao đổi thành phẩm, thực hiện kế hoạch sản xuất phụ ngoài chỉ tiêu pháp lệnh để tăng thu nhập cho người lao động, thực hiện lương khoán; các xí nghiệp quốc doanh làm kế hoạch 3 phần A-B-C.
Công ty xuất, nhập khẩu thực hiện huy động vốn, tổ chức thu mua nông sản giá thỏa thuận, rồi xuất khẩu tiểu ngạch sang Singapore, Hồng Công (Trung Quốc) lấy ngoại tệ, nhập nguyên vật liệu, vật tư cho sản xuất, giải quyết việc làm cho công nhân... Công ty kinh doanh lương thực phá lệ “ngăn sông cấm chợ” đưa tổ thu mua lúa gạo đem dầu hỏa, vải, thuốc tây xuống Cà Mau, Minh Hải làm hàng hai chiều, mua đổi lấy lúa về giải quyết nạn đói...
Cuộc “phá rào” ấy của thành phố đã được người đứng đầu Thành ủy “chuyển thể” thành kịch bản “Hội nghị Đà Lạt” (tháng 7-1983). Khi các lãnh đạo cấp cao của Trung ương vào nghỉ hè ở Đà Lạt, Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Linh đề xuất và được chấp nhận: Mỗi ngày một tiếng đồng hồ để gặp gỡ và nghe cơ sở báo cáo chi tiết những việc đã làm trong thời gian qua theo tinh thần “nói thẳng, nói rõ sự thật, không giấu giếm”.
Vì thế, lãnh đạo cấp cao của Trung ương được nghe tiếng nói từ cơ sở và lãnh đạo ở cơ sở được bộc bạch tâm tư, tâm huyết của mình với lãnh đạo cấp cao của Nhà nước. Hiệu quả trực tiếp đầu tiên là đồng chí Trường Chinh ngay sau đó yêu cầu tổ chức khảo sát thực tế. Tại Hội nghị Trung ương 8, khóa V (năm 1985), Đảng dứt khoát quyết định phải triệt để xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu-bao cấp, chuyển sang hạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa.
Thành phố góp sức lực, trí tuệ vào tìm tòi để hình thành đường lối đổi mới. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12-1986), Tổng Bí thư Trường Chinh đã phát đi lời hiệu triệu: “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”. Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện, trước hết là đổi mới kinh tế, thực hiện 3 chương trình kinh tế. TP Hồ Chí Minh triển khai thực hiện 4 mục tiêu: Giảm tỷ lệ bội chi ngân sách, giảm nhịp độ tăng giá, giảm tốc độ lạm phát, giảm khó khăn về đời sống cho cán bộ, công nhân viên và người lao động.
Thành phố trở thành địa phương đi đầu trong cả nước về tăng trưởng kinh tế: Năm 1996-2000, mặc dù chịu ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế, tài chính của châu Á, thành phố vẫn tăng trưởng 10,11%. Năm 2001-2005, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 11%/năm. Đến năm 2010, thành phố là trung tâm phát triển của cả nước-đóng góp 21% GDP, 29,4% giá trị sản xuất công nghiệp, 37% về kim ngạch xuất khẩu...
Thành phố là đầu tàu, động lực tăng trưởng, hạt nhân vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Năm 2025, dân số thành phố chiếm 13,4% dân số cả nước, đóng góp hơn 23% GDP.
Thành phố có một thứ “tài sản” quý giá đó là “tiên phong tạo ra những cái mới”: Tiên phong trong đêm trước đổi mới; tiên phong trong suy nghĩ, tìm tòi, xây dựng và phát triển các phong trào văn hóa-xã hội, khởi xướng và thực hiện các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Xây dựng nhà tình nghĩa”, “Nhà tình thương”; chương trình xóa đói, giảm nghèo; “Bảo trợ bệnh nhân nghèo”; “Nụ cười cho trẻ thơ”; phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng; phong trào ba giảm, đề án sau cai nghiện, Quỹ vì người nghèo, bệnh viện cho người nghèo, chương trình nông thôn mới, thực hiện xã hội hóa y tế, xã hội hóa giáo dục, phong trào tình nguyện (Mùa hè xanh, Xuân tình nguyện, Tiếp sức mùa thi)...
Nói đến Thành phố mang tên Bác là nói đến những danh hiệu: Thành phố anh hùng, thành phố “vì cả nước, cùng cả nước”, thành phố nghĩa tình; chuyện kể về thành phố là chuyện về xóa đói, giảm nghèo, về kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè, về ngày hội sách và đường sách; hình ảnh về thành phố là hình ảnh thành phố năng động, sáng tạo, văn minh, hiện đại và không gian văn hóa Hồ Chí Minh...
Thành tựu đạt được là sự nỗ lực của thành phố, có sự đầu tư, tạo điều kiện của Chính phủ, sự hợp tác, giúp đỡ của nhiều địa phương, nhưng lớn nhất vẫn là đầu tư của Trung ương. Từ năm 1982 đến nay, Bộ Chính trị đã 5 lần ra nghị quyết về phát triển TP Hồ Chí Minh.
Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hồ Chí Minh lần thứ I (tháng 10-2025) đã xác định những mục tiêu 100 năm: Năm 2030 là đô thị văn minh, hiện đại, trung tâm đổi mới sáng tạo, năng động, hội nhập, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, có vị trí nổi trội ở khu vực Đông Nam Á, nằm trong nhóm 100 thành phố toàn cầu, đáng sống và có hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của thế giới, thuộc nhóm thu nhập cao.
Năm 2045 là siêu đô thị quốc tế của Đông Nam Á, trung tâm kinh tế, tài chính, du lịch, dịch vụ, giáo dục, y tế của châu Á, điểm đến hấp dẫn toàn cầu, kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển đặc sắc, bền vững, chất lượng sống cao, hội nhập quốc tế sâu rộng. Nghị quyết số 09-NQ/TW xác định mục tiêu năm 2075, TP Hồ Chí Minh là đô thị toàn cầu, thông minh, hiện đại, phát triển toàn diện, ngang tầm các đô thị phát triển trên thế giới, tăng trưởng xanh, bền vững, chất lượng cuộc sống cao, thích ứng tốt với biến đổi khí hậu.
Vận hội mới năm 2026 là tròn 50 năm Thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu. Thành phố phát huy 3 động lực tăng trưởng truyền thống (sản xuất, tiêu dùng, xuất khẩu), phát triển 3 động lực mới (Trung tâm Tài chính quốc tế, hệ thống cảng biển-logistics, đổi mới sáng tạo gắn với chuyển đổi xanh, chuyển đổi số).
“Đại công trường” năm 2026 tạo đà, tạo động lực cho cả giai đoạn 2026-2030, với việc khởi công, hoàn thành hơn 100 dự án hạ tầng kỹ thuật và xã hội (đường sắt Thủ Thiêm-Long Thành; đường cao tốc Hồ Tràm-sân bay Long Thành; mở rộng đường Nguyễn Tất Thành; cụm cảng biển Cái Mép Hạ; dự án cầu/hầm vượt biển Cần Giờ-Vũng Tàu...”.
Mỗi người dân thành phố đều có niềm tự hào chính đáng từ hiện thực lịch sử “Từ thành phố này” người thanh niên Văn Ba ra đi bôn ba tìm đường cứu nước, chuẩn bị khởi nghiệp cho cả dân tộc đi đến độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất, đổi mới phát triển hội nhập và đi đến giàu mạnh, phồn vinh.
PGS, TS HÀ MINH HỒNG (Phó chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử TP Hồ Chí Minh)