Đó là sự thể hiện đạo lý “ăn quả nhớ người trồng cây”, “uống nước nhớ nguồn”, là cơ sở tạo nên bản sắc văn hóa rất đáng quý: Yêu thương nhau như ruột thịt, “anh em như thể chân tay”; đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau, “chị ngã em nâng”.

Cây văn hóa luôn kết trái thành biểu tượng, được thể hiện trước hết ở tên gọi. Dân gian phong Gióng là Phù Đổng Thiên Vương, phong người mẹ sinh ra Gióng là Thánh Mẫu Bảo Vương, còn gọi là Đức Thiên Mẫu Bảo Vương. Đó là biểu hiện tinh tế của đạo lý ghi nhận công ơn người đã sinh thành ra bậc anh hùng cứu nước. Hầu như ở mọi làng Việt cổ đều có Thành hoàng, được cộng đồng làng xã tôn làm thần bảo hộ, che chở dân làng, phù hộ cho cuộc sống bình yên, mùa màng tốt tươi...

Đó là cách dân gian huyền thoại hóa một câu chuyện, sự kiện, nhân vật thành một vị thần, để giáo dục con cháu nhớ về nguồn cội mà phấn đấu vươn lên xứng đáng với nguồn cội. Trong nhiều sách chính sử có ghi chép cụ thể ở mỗi triều đại phong kiến đều có các quy định về ban thưởng công thần sau chiến tranh; truy tặng chức tước cho người tử trận; ban cấp tiền, lụa, ruộng đất cho gia đình người có công; việc lập đền thờ các trung thần, nghĩa sĩ; chế độ tiền tuất cho quân lính tử trận; khen thưởng người lập công, chăm lo người bị thương...

2.  Không ngừng học tập, tiếp thu, kế thừa, kết tinh, phát triển và nâng cao các giá trị văn hóa truyền thống, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người tiêu biểu cho đạo lý truyền thống “uống nước nhớ nguồn”. Nói về các liệt sĩ, Bác thường dùng những từ ngữ có giá trị biểu cảm sâu sắc nhất, gần gũi với tính cách người Việt. Thời kỳ đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, bác sĩ Vũ Đình Tụng có người con trai hy sinh, Bác đã gửi thư chia buồn, trong thư có đoạn: Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột... Lời văn là lời chia sẻ, qua lối so sánh “hình như tôi đứt một đoạn ruột”, nỗi đau từ phía khách thể bên ngoài chuyển vào phía chủ thể bên trong. Đau đớn và chân thành tận gan ruột mới có những câu văn nặng tình xót xa ấy.

Người lấy những tấm gương đảng viên đã vì Đảng, vì giai cấp, vì dân tộc mà oanh liệt hy sinh: “Máu xương của các tiên liệt đã thấm nhuần gốc rễ của Đảng ta, làm cho cây nó càng vững, ngành nó càng to, và kết quả khai hoa ngày càng rực rỡ”. Hình tượng ẩn dụ giàu biểu cảm: “Cây” Đảng ta tươi tốt là nhờ “gốc rễ” được “thấm nhuần” máu xương của các bậc tiền bối. Hình tượng này được Người hơn một lần nhắc lại: “Các đồng chí ấy đã đem xương máu mình vun tưới cho cây cách mạng, cho nên cây cách mạng đã khai hoa, kết quả tốt đẹp như ngày nay”.

leftcenterrightdel
 Bác Hồ đến thăm thương binh tại Trường thương binh hỏng mắt ở Hà Nội, ngày 11-2-1956. Ảnh tư liệu

Người dùng hai chữ “máu mủ” để nói về sự hy sinh lớn lao của bộ đội, đồng bào: “Các chiến sĩ đã hy sinh máu mủ để giữ gìn đất nước”. Bác nhắn nhủ thế hệ thanh niên: “Trên đống xương máu, trên đống tro tàn, thanh niên ta, con cháu ta, sẽ xây dựng một nước Việt Nam hoàn toàn độc lập”. “Xương máu” ở đây là sự hy sinh của các chiến sĩ, của đồng bào đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Câu văn lại hướng về cái đích: Các thế hệ sau thừa hưởng thành quả của cách mạng phải biết ơn các vị tiên liệt, biết ơn các bậc cha anh đi trước. Bác làm thơ ca ngợi các chiến sĩ ngoài trận tuyến (tiền phương) lấy sinh mệnh mình ngăn bước quân thù: “Tiền phương chiến sĩ hy sinh/ Đem xương máu mình, giữ nước non ta”.

Đối với thương binh, bệnh binh, Bác dành sự quan tâm đặc biệt. Trong “Thư gửi Ban Thường trực của Ban tổ chức Ngày Thương binh toàn quốc” năm 1947, Người viết thật cảm động: “Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào”. Không chỉ kêu gọi đồng bào giúp đỡ thương binh, chính Bác còn “xung phong” góp áo lụa, tiền lương và tiền ăn của mình để ủng hộ.

Năm 1948, trong “Lời kêu gọi nhân ngày 27-7-1948”, Bác nhắc tới nỗi đau của các gia đình liệt sĩ, thương binh bằng những câu chữ lay động lòng người: Tay chân tàn phế của thương binh sẽ không mọc lại được. Và những tử sĩ sẽ không thể tái sinh. Mà lòng bác ái của đồng bào cũng không có hạn. Vì vậy, tôi mong và chắc rằng đồng bào trước đã giúp đỡ, sau này sẽ sẵn sàng giúp đỡ mãi. Đó không còn là lời của một vị nguyên thủ quốc gia mà là tiếng nói của một trái tim nhân hậu, của tình yêu thương con người thật sự lớn lao. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Bác luôn quan tâm tới việc điều trị, chăm sóc thương binh. Người thường xuyên kiểm tra bữa ăn, nơi ở, thuốc men; nhắc các bác sĩ phải tận tình, nhân ái với bệnh nhân...

Giá trị văn hóa lớn lao trong tư tưởng của Bác thể hiện ở cái nhìn người thương binh bằng sự đồng cảm, chia sẻ, rất mực tôn trọng, luôn tin tưởng họ có thể lao động, học tập và cống hiến. Bác căn dặn họ phải học nghề, tăng gia sản xuất, luyện tập thể dục-thể thao, tránh mặc cảm, bi quan. Người nhắc nhở: Phải hòa mình với nhân dân, tôn trọng nhân dân... tránh tâm lý công thần... Chớ bi quan chán nản. Phải luôn cố gắng.

Tư tưởng ấy được cô đọng trong 4 chữ: “Tàn nhưng không phế”. Không chỉ là lời động viên, đó là sâu thẳm một triết lý nhân văn lắng đọng, ân tình. Có thể con người bị khiếm khuyết cơ thể, nhưng nhân cách, trí tuệ và khát vọng sống không hề tàn phế. Con người vẫn có thể lao động, sáng tạo, sống hữu ích và được tôn trọng, bình đẳng như mọi công dân khác.

3.  Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” đã trở thành nét đẹp văn hóa, góp phần nâng cao tinh thần yêu nước, trách nhiệm xã hội ta. Từ sự tri ân bằng các chính sách đến những hành động mang tính xã hội đang trở thành biểu tượng sinh động cho truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc. Các hoạt động thăm hỏi, tặng quà dịp lễ, tết; xây dựng nhà tình nghĩa; tặng sổ tiết kiệm; phụng dưỡng, đỡ đầu... được thực hiện. Nhiều địa phương sáng tạo mô hình phù hợp, hiệu quả như xóa nhà tạm; phụng dưỡng, chăm sóc Bà mẹ Việt Nam anh hùng hay tôn tạo nghĩa trang liệt sĩ... nhằm khơi dậy mạnh mẽ đạo lý biết ơn, giáo dục truyền thống cách mạng, tri ân các anh hùng liệt sĩ, tinh thần trách nhiệm cho thế hệ trẻ, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn xã hội.

“Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” được phát động mới đây là minh chứng.

Những ai từng cầm súng ở chiến trường đều thấu hiểu, trong chiến tranh, người lính ngã xuống vì Tổ quốc để lại nỗi đau mất người thân không thể nguôi ngoai cho người còn sống. Một sự an ủi vong linh người đã khuất và thỏa phần nào nỗi nhớ, nỗi đau của người thân là tìm được hài cốt liệt sĩ. Một việc làm mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc chắc chắn sẽ được hưởng ứng mạnh mẽ và thành công.

Tri ân thương binh, liệt sĩ không chỉ là nhớ về quá khứ mà còn là gìn giữ cội nguồn đạo đức dân tộc, để mỗi thế hệ đều hiểu rằng độc lập, tự do và hạnh phúc hôm nay được đánh đổi bằng xương máu của biết bao người đi trước. Ngày 16-4-2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 692/QĐ-TTg về việc ban hành Kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27-7-1947 / 27-7-2027) gồm nhiều hoạt động tri ân, hệ thống chính sách pháp luật, xây dựng các công trình tưởng nhớ... Điều ấy thể hiện bản chất tốt đẹp của xã hội, phù hợp đạo lý, phát huy tinh thần yêu nước của toàn dân.

THANH MAI