Trung tuần tháng 9-1969, địch tập trung lực lượng mở chiến dịch tiến công, càn quét quy mô lớn mang tên “Nhổ cỏ U Minh”. Bộ tư lệnh (BTL) Quân khu 4-Vùng 4 chiến thuật ngụy đặt mục tiêu cuối năm 1969 sẽ lấn chiếm xong toàn bộ vùng U Minh.

Địch tập trung lực lượng mở cuộc tiến công hòng “xóa sổ” căn cứ U Minh, trong khi ở chiến trường miền Tây Nam Bộ bấy giờ, chủ lực của ta chỉ còn lại 2 trung đoàn, nhưng quân số và trang bị, vũ khí thiếu hụt trầm trọng, chưa kịp bổ sung, sức chiến đấu giảm sút. Đã thế, lúc bấy giờ, trong nội bộ lãnh đạo, chỉ huy Khu ủy và Quân khu xuất hiện sự thiếu thống nhất trong đánh giá tình hình và xác định phương thức đối phó với âm mưu, thủ đoạn của địch. Sự thiếu thống nhất đó không chỉ tác động tiêu cực đến đoàn kết nội bộ lãnh đạo, chỉ huy mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động chống phá bình định của các lực lượng trên địa bàn.

Sớm phát hiện ra thực trạng đó, đầu tháng 9-1969, Trung ương Cục và BTL Miền đã kịp thời chi viện 2 trung đoàn chủ lực với hơn 8.000 quân cho Quân khu 9; đồng thời tăng cường một số cán bộ lãnh đạo, chỉ huy để ổn định tình hình và lập lại thế trận. Đặc biệt, Trung ương Cục hết sức quan tâm đến vấn đề đoàn kết nội bộ. Để củng cố sự đoàn kết, thống nhất cao trong bộ máy lãnh đạo, chỉ huy, Trung ương Cục cử đồng chí Đại tá Lê Đức Anh (Sáu Nam), Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Miền về làm Tư lệnh Quân khu với bí danh là Chín Hòa; đồng chí Võ Văn Kiệt (Sáu Dân) về làm Bí thư kiêm Chính ủy Quân khu với bí danh là Tám Thuận. Đây không đơn thuần là việc luân chuyển cán bộ cấp khu, mà còn nhằm tạo sự đoàn kết thống nhất trong lãnh đạo, chỉ huy Quân khu 9, vốn đang tồn tại một số vấn đề “lủng củng” xung quanh việc đánh giá tình hình và sử dụng chủ lực để chống phá bình định lúc bấy giờ. Đại tướng Phạm Văn Trà, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 (Quân khu 9) kể: “Ngày đó anh em chúng tôi vẫn tâm sự với nhau rằng chỉ với việc chọn bí danh Chín Hòa cho anh Lê Đức Anh, Tám Thuận cho anh Võ Văn Kiệt cũng đã mang ý nghĩa tượng trưng cho sự hòa thuận, đoàn kết thống nhất cao giữa Khu ủy và BTL Quân khu”.

Sự bổ sung bộ đội chủ lực và thay đổi cán bộ lãnh đạo, chỉ huy Khu 9 đã tạo ra sự chuyển biến tình hình đáng kể, mang lại “làn gió mới” cho chiến trường Khu 9 lúc bấy giờ. Đại tá Trương Minh Hoạch, nguyên cán bộ Bộ Tham mưu Quân khu 9 nhớ lại: “Các đồng chí lãnh đạo mới về trong lúc địch đã chiếm gần hết miền Tây Nam Bộ, chỉ còn lại khu vực chúng tôi đang đứng chân là U Minh. Tôi còn nhớ trong buổi giao ban BTL Quân khu đầu tiên, đồng chí Tư lệnh mới phân tích, đánh giá tình hình địch-ta trên chiến trường Khu 9 rồi đặt vấn đề tại sao ở đây địch lại có thể thực hiện âm mưu bình định lấn chiếm một cách nhanh chóng như vậy được? Đồng chí cho rằng có 2 nguyên nhân chủ yếu: Một là, trong khi địch có chủ trương, biện pháp chỉ đạo và kế hoạch bình định, lấn chiếm rất rõ ràng, cụ thể thì ta tuy có chủ trương nhưng không rõ, phương hướng chung chung, thiếu cụ thể. Ta không biết củng cố thành quả đã giành được ở nông thôn và phát triển thành quả đó mà lại còn “cay cú” với thành phố, thị xã, khi mà cả hai yếu tố bất ngờ và thời cơ đã không còn, địch đã phục hồi nhanh chóng sau đòn tiến công Tết. Hai là, trong cán bộ lãnh đạo, chỉ huy có sự không thống nhất về phương châm chống phá bình định. Một bộ phận tích cực thì chống trả địch một cách bị động; số còn lại thì tiêu cực, thậm chí bỏ cả hàng ngũ... Tình hình trên kéo dài dẫn đến hậu quả rất xấu.

leftcenterrightdel
Bộ đội Trung đoàn 1 tiếp cận, tập kích căn cứ Thứ Mười Một. Ảnh tư liệu 

Sau khi phân tích, đồng chí Tư lệnh đi đi lại lại, tay bóp trán một hồi lâu rồi bỗng nhiên dừng lại cất tiếng hỏi những người có mặt trong buổi giao ban: “Bây giờ, có đồng chí nào hiến kế, đề xuất được phương án đánh phá bình định, khắc phục hậu quả để mất đất, mất dân thì tôi sẽ đề nghị lên cấp trên chỉ định đồng chí đó làm Tư lệnh Quân khu ngay”. Tất cả im phăng phắc, không một ai dám trả lời...”.

Tình hình Khu 9 đã khó càng khó khăn hơn khi địch triển khai quân bố trí thành tuyến, tiến hành bình định lấn chiếm suốt một dải từ Vĩnh Tuy, Ba Đình, Vị Thanh, An Biên, Cái Tàu, sông Ông Đốc... kéo dài lên tận Ba Hòn (Bắc Rạch Giá). Hai tuyến giao thông thủy huyết mạch là sông Trẹm và kinh xáng Xẻo Rô trở thành trọng điểm bình định lấn chiếm.

Địch kiên quyết tập trung lực lượng đánh phá ác liệt hòng “Nhổ cỏ U Minh”. Trong bối cảnh đó, nhiều cuộc họp trong cán bộ chủ chốt của Khu ủy và BTL Quân khu đã diễn ra xoay quanh việc tìm đáp án chính xác cho câu hỏi: Làm thế nào để có thể đối phó hiệu quả với âm mưu và hành động của kẻ địch?

Trung tướng Nguyễn Đệ, nguyên Tư lệnh Quân khu 9, bấy giờ là Phó tham mưu trưởng Quân khu phụ trách tác chiến kể: “Trong quá trình trao đổi và tranh luận trong nội bộ lãnh đạo, chỉ huy về phương thức đối phó với bình định lấn chiếm của địch có 2 luồng ý kiến khác nhau. Một số ý kiến cho rằng trong bối cảnh địch dàn lực lượng càn quét bình định trên diện rộng, ta cần phải phân tán chủ lực, duy trì cấp tiểu đoàn, đánh nhỏ vào các khu vực phía sau lưng địch, buộc chúng phải bỏ cuộc hành quân bình định lấn chiếm U Minh, kéo quân chủ lực về để đối phó. Trong khi đó, số khác lại cho rằng trước đây thường là như vậy, nhưng sau năm Mậu Thân, tình hình đã khác nhiều. Sự tác động của ta không còn đủ “đô” để kéo chủ lực địch quay về đối phó. Vì vậy phải kiên quyết giữ và củng cố bộ đội chủ lực, tập trung lực lượng đánh những trận có tính chất thôi động, kết hợp với phát động chiến tranh du kích rộng rãi, đánh bại các cuộc hành quân bình định lấn chiếm tại chỗ, tạo điều kiện cho các địa phương bị địch lấn chiếm khôi phục lại địa bàn đã mất và phát triển phong trào. Qua nhiều cuộc tranh luận dân chủ, thẳng thắn, cuối cùng BTL Quân khu quyết định thực hiện theo nhóm ý kiến thứ hai”.

Với quyết tâm đánh bại cuộc hành quân bình định lấn chiếm đầy tham vọng mang tên “Nhổ cỏ U Minh” của địch, BTL Quân khu 9 quyết định tập trung chủ lực tiêu diệt căn cứ trung tâm chỉ huy hành quân của chúng đóng ở căn cứ Thứ Mười Một.

Đêm ngày 5, rạng ngày 6-11-1969, BTL Quân khu 9 tung hai con “át chủ bài” là Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2, đồng thời “vét” hết lượng vũ khí dự trữ mở cuộc tiến công tiêu diệt căn cứ Thứ Mười Một-trung tâm đầu não hành quân của địch. Bị đòn tiến công bất ngờ, địch ngoan cố chống trả mãnh liệt, nhưng sau gần một ngày đọ súng, cuối cùng cũng phải chấp nhận thất bại. 2/3 quân số địch tại đây bị tiêu diệt, số sống sót còn lại bỏ chạy. Ta thu nhiều vũ khí, trang bị, trong đó có 10 tàu, thuyền đang neo đậu trong căn cứ. Trung tâm chỉ huy hành quân bị xóa sổ, BTL Vùng 4 chiến thuật của địch buộc phải ra lệnh chấm dứt cuộc hành quân, kết thúc chiến dịch “Nhổ cỏ U Minh”.

Không chịu bỏ cuộc, sau đó không lâu, địch tiếp tục mở cuộc hành quân càn quét lấn chiếm U Minh lần thứ hai (tháng 2-1970); rồi lần thứ ba (tháng 11-1970). Tuy nhiên, cũng giống như số phận của cuộc hành quân lần thứ nhất, cả hai cuộc hành quân bị thất bại thảm hại. Căn cứ địa U Minh qua 3 cuộc hành quân càn quét, bình định, lấn chiếm của địch không những không bị xóa sổ mà còn được củng cố và mở rộng vững chắc hơn. Việc đập tan chiến dịch “Nhổ cỏ U Minh” đã tạo niềm tin cho lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân là ta có đủ khả năng tiêu diệt địch trong các căn cứ tương đối lớn và hoàn toàn có khả năng đánh bại các cuộc hành quân càn quét quy mô lớn của địch. Chiến thắng này cũng là cơ sở tạo đà giúp cho quân và dân Quân khu 9 trở thành lá cờ đầu trong chống bình định lấn chiếm của địch sau khi Hiệp định Paris (tháng 1-1973) được ký kết.

TRẦN VĨNH THÀNH