Cuộc tổng tiến công nổ ra trong bối cảnh tương quan lực lượng quân sự đôi bên vẫn còn chênh lệch khá lớn, địch chiếm ưu thế hơn ta nhiều lần về quân số và vũ khí, trang bị. Trước tình thế đó, Bộ Tổng Tham mưu đã chỉ thị cho Bộ tư lệnh Hải quân giao cho Đoàn 125 tổ chức lực lượng và phương tiện tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Sau khi nghiên cứu kỹ tình hình trên biển, các khu vực bến bãi và cân nhắc, lựa chọn nhân sự, Ban chỉ huy Đoàn 125 đã lựa chọn 4 đơn vị tàu để thực hiện nhiệm vụ tối quan trọng này, đó là: Tàu 165, Tàu 56, Tàu 43 và Tàu 235. Để bảo đảm bí mật, từ Hải Phòng, Quảng Ninh, 4 con tàu xuất phát tại 4 địa điểm khác nhau. Nhằm bảo đảm chi viện vũ khí kịp thời cho các chiến trường trọng điểm, các tàu được giao hướng vào các bến trải dài từ Khu 5 tới Tây Nam Bộ: Tàu 43 vào cập bến Đức Phổ (Quảng Ngãi), Tàu 56 vào bến Lộ Giao (Bình Định), Tàu 235 vào bến Hòn Hèo (Khánh Hòa), Tàu 165 vào bến Vàm Lũng (Cà Mau).

leftcenterrightdel
Bản đồ mô tả hành trình của những chuyến tàu không số chi viện cho chiến trường bằng Đường Hồ Chí Minh trên biển. 

Đêm 6-2-1968, đúng vào cao điểm của đợt tiến công Tết, Tàu 235 do Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh và Chính trị viên Nguyễn Tương chỉ huy cùng thủy thủ đoàn gồm 20 cán bộ, chiến sĩ, chở khoảng 14 tấn vũ khí nhổ neo rời bến Đồ Sơn hướng vào vùng biển Hòn Hèo (Khánh Hòa). Trung tá, Anh hùng LLVT nhân dân Hồ Đắc Thạnh, nguyên Thuyền trưởng của Đoàn 125 kể: “Khi Tàu 235 vừa vào đến vùng biển ngoài khơi Nha Trang thì bị địch phát hiện, máy bay địch theo sát quần thảo trên đầu, thuyền trưởng quyết định cho tàu chuyển hướng vào bờ. Tuy nhiên, do không bắt được liên lạc với bến, thuyền trưởng đành cho thả hàng xuống vùng biển ven bờ để anh em ở bến ra vớt sau, đồng thời lệnh cho tàu chạy ra xa khu vực bến. Hàng chục tàu, thuyền địch đuổi theo bủa vây hò nhau bắt sống cả thủy đoàn và tàu. Vòng vây của tàu hải quân và máy bay địch nhanh chóng khép chặt con tàu nhỏ nhoi. Một trận chiến không cân sức đã diễn ra trên vùng biển gần bờ khu vực Hòn Hèo. Kiên quyết không để người và hàng rơi vào tay quân địch, Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh cho tàu cơ động vào gần bờ, đồng thời ra lệnh cho anh em thủy thủ rời tàu. Riêng anh và máy trưởng ở lại chuẩn bị bộc phá để phá tàu rồi bơi vào bờ sau.

Một tiếng nổ vang lên kéo theo một cột nước cao giữa vùng biển Hòn Hèo. Quân địch lập tức điện cho máy bay từ Nha Trang ra oanh tạc dữ dội khu vực ven bờ nhằm bao vây bắt sống bằng được số thủy thủ của Tàu 235. Mặc dù chiến đấu rất quả cảm và được cơ sở ở bến che chở nhưng sau trận đánh này chỉ còn lại 5 thủy thủ. Nhờ sự đùm bọc của người dân, họ cùng nhau tìm đường lên cứ, rồi vượt Trường Sơn ra Bắc tiếp tục thực hiện các chuyến đi tiếp theo. Riêng Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh và Máy trưởng Ngô Văn Thứ ở lại thu hút, kìm chân quân địch cho đồng đội thoát, anh dũng chiến đấu cho đến viên đạn cuối cùng rồi hòa mình vào lòng biển Hòn Hèo”.

Tiếp theo Tàu 235, đêm 25-2-1968, Tàu 165 do Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm và Chính trị viên Nguyễn Ngọc Lương cùng 18 thủy thủ chở theo khoảng 64 tấn vũ khí rời bến Đồ Sơn lên đường vào miền Tây Nam Bộ. Ngày 29-2, tàu vào đến khu vực cửa biển Vàm Lũng thì bị địch phát hiện và bủa vây. Một trận đánh không cân sức đã xảy ra. Cả thủy thủ đoàn đã hy sinh anh dũng. Còn lại sau trận đánh chỉ là những mảnh gỗ trôi dạt ven cửa biển Vàm Lũng mà anh em ở bến thu lượm được trong sự thương tiếc khôn nguôi.

leftcenterrightdel
Di tích Bến tàu không số K15 ở Đồ Sơn, Hải Phòng. 

Ngày 26-2-1968, Tàu 56 do Thuyền trưởng Nguyễn Văn Ba và Chính trị viên Đỗ Như San chỉ huy chở vũ khí chi viện cho chiến trường Khu 5. Theo kế hoạch, tàu sẽ vào bến Lộ Giao. Tuy nhiên, trong suốt hải trình, Tàu 56 luôn bị tàu địch bám theo, khiêu khích. Để giữ bí mật cho bến và xét thấy khả năng xuống hàng không khả thi nên chỉ huy Đoàn 125 đành phải lệnh cho tàu quay trở về.

Kiên quyết thực hiện bằng được kế hoạch đưa hàng vào Khu 5, chỉ một ngày sau khi Tàu 56 trở về cập cảng an toàn, Tàu 43 do Nguyễn Đức Thắng làm Thuyền trưởng và Trần Ngọc Tuấn làm Chính trị viên mang theo 37 tấn vũ khí được lệnh rời bến hướng Quảng Ngãi. Trung tá Trần Ngọc Tuấn, nguyên Chính trị viên Tàu 43 ngày đó nhớ lại: “Đây là chuyến đi đầy khó khăn và thử thách bởi bến Ba Làng An đã bị lộ. Trước đó vào giữa năm 1967, Tàu 198 cũng đã vào đây nhưng bị địch phát hiện, “hốt” luôn cả tàu và hàng. Khu vực này gọi là bến nhưng thực ra là một bãi cát mênh mông. Mặc dù vậy, anh em chúng tôi vẫn xác định, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ dù khó khăn đến mấy. Trước ngày lên đường, chúng tôi thống nhất cùng nhau: Trường hợp gặp địch phát hiện và vây đánh, kiên quyết chiến đấu đến cùng. Nếu không may bị địch bắt, dù có bị tra tấn dã man cỡ nào cũng không khai báo, không đầu hàng giặc.

Nửa đêm 1-3-1968, khi còn cách bờ gần 20 hải lý thì 4 tàu chiến của địch vây quanh bắn pháo sáng rực cả một vùng biển rồi bắn pháo vào tàu. Thuyền trưởng lệnh cho anh em chuẩn bị chiến đấu và tiêu hủy tài liệu. Tôi tới từng vị trí làm công tác tư tưởng, động viên anh em và kiểm tra từng bộ phận. Tất cả anh em đều xác định quyết tử. 10 chiếc tàu cao tốc của địch chạy vòng quanh tàu chúng tôi. Theo lệnh, các loại súng trên tàu đồng loạt nhả đạn. Ngay từ loạt đạn đầu, một tàu địch đã bị bắn chìm. Quân địch bắn xối xả về phía chúng tôi. Phát hiện chiến sĩ hàng hải điều khiển tàu Vũ Xuân Ruệ trúng đạn bị thương, tôi chỉ thị ngay cho Lưu Công Hào vào cầm lái thay cho Ruệ, đồng thời lao vào buồng lái đang định băng bó tạm vết thương cho Ruệ thì cậu thì thào: “Chính trị viên ở lại chiến đấu trả thù cho anh em!”, rồi trút hơi thở cuối cùng ngay trên tay tôi. Y tá kiêm pháo thủ số 2 Võ Nho Tòng cũng hy sinh trong khi hai tay vẫn ôm chặt quả đạn chưa kịp nạp. Tàu cao tốc của địch không thể tiếp cận được gần do hỏa lực bắn rát của Tàu 43, chúng liền gọi cho trực thăng UH-1A quần thảo và nã rốc-két xuống tàu. Tôi lệnh cho anh em dùng súng 12,7mm đánh trả. Bằng những loạt đạn chính xác đã bắn rơi 3 máy bay trực thăng, những chiếc còn lại bay ra xa...”.

leftcenterrightdel
Tàu không số vận chuyển hàng hóa, vũ khí trên Đường Hồ Chí Minh trên biển. Ảnh tư liệu 

Sau hơn 3 giờ quần nhau với tàu và máy bay địch trên vùng biển gần bờ, tờ mờ sáng 1-3-1968, lợi dụng thời cơ quân địch xốc lại đội hình, Tàu 43 vừa bắn trả, sử dụng “bom chìm” và bộc phá ngăn chặn tàu địch, kiên quyết không cho chúng bám sát; vừa cơ động tăng tốc chạy thẳng vào bờ. Chỉ huy tàu ra lệnh nhanh chóng đưa số liệt sĩ và anh em bị thương lên bờ, đồng thời lệnh cho tổ hỏa lực nhanh chóng rời tàu, chiếm vị trí thuận lợi tổ chức đánh trả quân địch, bảo vệ an toàn cho số anh em đã lên bờ và bộ phận làm nhiệm vụ phá hủy tàu.

Chính trị viên Trần Ngọc Tuấn chỉ huy bộ phận còn lại nhanh chóng thao tác phá hủy tàu. Để bảo đảm “chắc ăn”, phải khi nhìn thấy dây cháy chậm phát khói, anh mới hô anh em cùng nhau rời khỏi tàu. Trên đường bơi vào bờ, thêm một thủy thủ nữa trúng đạn hy sinh. “Lên đến bờ, chúng tôi xốc lại đội hình cơ động vào chân núi thì đụng hai xe tăng địch đang đón lõng. Chúng tôi đang tìm lối mòn để lên núi thì phát hiện trên đỉnh núi có quân Mỹ nên đành phải quay xuống thì may mắn gặp được cơ sở của ta. Nhờ sự cưu mang, đùm bọc của bà con nhân dân mà chúng tôi tránh được cuộc càn quét lớn của một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ vào địa bàn này. Sau 4 ngày được cơ sở nuôi giấu dưới hầm bí mật, khi cuộc càn kết thúc, chúng tôi được du kích thôn dẫn đường lên Bệnh xá của bác sĩ Đặng Thùy Trâm. Lưu lại đó một thời gian để chữa trị vết thương, chúng tôi tiếp tục hành quân vượt Trường Sơn ra Bắc trở về với đơn vị cũ”, Trung tá Trần Ngọc Tuấn cho biết.

TRẦN VĨNH THÀNH