Nhiệm vụ sáng tác trở thành khát vọng lịch sử

Sau ngày Toàn quốc kháng chiến, tháng 2-1947, những người bảo vệ Thủ đô rời Hà Nội. Trong tâm thức của họ, Hà Nội không chỉ là một địa danh mà còn là biểu tượng của ngày trở về. Sau những năm đầu gian khổ, cuộc kháng chiến có những chuyển biến mới, mở ra niềm tin vào thắng lợi. Tại Việt Bắc, các văn nghệ sĩ được phổ biến chủ trương chuẩn bị “tổng phản công”. Văn Cao được điều về Chi hội Văn nghệ Liên khu III, hoạt động ở khu vực Chợ Đại, Ứng Hòa, nay thuộc xã Hòa Xá, TP Hà Nội. Theo hồi ức của nhạc sĩ, trong một cuộc họp, được giao nhiệm vụ sáng tác về Hà Nội, ông đã hứa với đồng chí Lê Quang Đạo (lúc bấy giờ là Phó trưởng ban Tuyên truyền Trung ương) sẽ viết một ca khúc về Thủ đô. Đồng chí Lê Quang Đạo gợi ý ông sáng tác một bài hát “vừa hùng tráng, vừa trữ tình”.

Khoảng giữa năm 1949, ca khúc được hoàn thành, sau đó được in trên tờ báo Thủ đô do đồng chí Khuất Duy Tiến (Phó bí thư Thành ủy Hà Nội) phụ trách. Như vậy, có thể xem “Tiến về Hà Nội” là một dạng “đặt hàng” nghệ thuật: Nhiệm vụ sáng tác xuất phát từ nhu cầu của cuộc kháng chiến. Nhưng không theo nghĩa áp đặt đề tài, mà là một yêu cầu cần có một tác phẩm về Hà Nội kết hợp được chất tráng ca hào hùng, chất hoan ca hồ hởi của niềm vui chiến thắng với chất tình ca lãng mạn về tình yêu Thủ đô ngàn năm văn hiến.

“Đơn đặt hàng” có thể tạo ra nhiệm vụ, nhưng rất khó để tạo nên tác phẩm lớn. Nhiệm vụ chỉ trở thành nghệ thuật khi người nghệ sĩ tìm được hình thức biểu đạt tương ứng với chiều sâu cảm xúc. Niềm tin vào ngày chiến thắng và nỗi nhớ Hà Nội là những điểm tựa thẩm mỹ để sáng tác. Tài năng nghệ sĩ tạo nên hình tượng. Khát vọng lịch sử tạo nên sức sống cho hình tượng ấy.

leftcenterrightdel

Nhạc sĩ Văn Cao năm 1947. Ảnh: TRẦN VĂN LƯU 

Cảm hứng “tiến về Hà Nội”

“Tiến về Hà Nội” chính là mạch cảm xúc xuyên suốt tác phẩm: Trùng trùng quân đi như sóng/ Lớp lớp đoàn quân tiến về... Ca từ không sử dụng cấu trúc hồi tưởng để tái hiện một chiến thắng đã qua, mà sử dụng những động từ vận động, khiến tương lai xuất hiện như một hiện tại đang diễn ra. Lịch sử trong bài hát, vì vậy không phải một trạng thái tĩnh tại, đứng yên, mà là một quá trình mở. “Trùng trùng”, “lớp lớp” ngoài gợi về số đông, còn tạo cảm giác về một sức mạnh của đoàn quân rắn rỏi, mạnh mẽ, đầy khí thế. Đại từ “chúng ta” xuất hiện nhiều lần (Chúng ta đi.../ Chúng ta đem.../ Chúng ta ươm lại hoa...) có ý nghĩa đặc biệt: Chủ thể bài hát không chỉ là người lính mà còn bao gồm tất cả, là các tầng lớp xã hội, là nhân dân nói chung. Do vậy, không đơn thuần là bài hát về một đoàn quân, mà là bài hát về một cộng đồng cùng hướng tới tương lai chung, tự tin, tươi sáng.

Đích đến của đoàn quân là nơi phố phường Thủ đô, là đồng bào, đồng chí, là sự đoàn tụ và trạng thái hòa bình. Không chỉ là khát vọng giải phóng một thành phố mà còn là khát vọng khôi phục một đời sống đã bị chiến tranh chia cắt, tàn phá. Vì thế, vang vọng trong âm hưởng chiến thắng là một tình cảm rất mực nhân bản: Khát vọng được trở về.

Nhìn thấy tương lai bằng cảm nhận nghệ thuật là phẩm chất của nghệ sĩ lớn. Không biết giải phóng sẽ diễn ra vào thời điểm nào. Không biết chính xác cảnh tượng ngày 10-10-1954 sẽ ra sao. Nhưng nhờ nắm bắt được một điều sâu xa trong trái tim bao người đã rời Hà Nội là khát vọng một ngày trở lại, Văn Cao đã hoàn toàn thành công với những ca từ “tưởng tượng” mà rất thật: Ôi phố phường Hà Nội xưa yêu dấu... Một chữ “xưa” mở ra cả một miền ký ức. Không còn là nơi giặc Pháp xâm chiếm, mà là chốn yêu dấu thuộc về. Tâm trạng náo nức, xốn xang: Chúng ta đi nghe vui lúc quân thù đầu hàng. Không gian rực rỡ: Cờ ngày nào tung bay trên phố. Tình người như mê đi, bị cuốn theo: Trùng trùng say trong câu hát... Niềm tự hào bất tận: Chúng ta đem vinh quang sức dân tộc trở về/ Cả cuộc đời tươi vui về đây.

leftcenterrightdel
 Nhân dân Hà Nội đón chào bộ đội về tiếp quản Thủ đô, tháng 10-1954. Ảnh tư liệu

Kiến tạo các biểu tượng nghệ thuật

Không chỉ kể một câu chuyện lịch sử, sức sống lâu bền của “Tiến về Hà Nội” mà còn ở khả năng kiến tạo các biểu tượng giàu ý nghĩa. Nếu chỉ có hình ảnh đoàn quân đi theo nhịp hành tiến, bài hát có thể chỉ trở thành một hành khúc chiến thắng. Nhạc phẩm có chiều sâu nhờ cách đặt biểu tượng đoàn quân vào không gian văn hóa Hà Nội.

Là những người lính, đoàn quân ấy cũng đồng thời là những người con trở về với quê hương. Hà Nội là thành phố, là Thủ đô, cũng là nhà. Cảm xúc chiến thắng được nâng lên thành cảm xúc đoàn tụ. Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về/ Như đài hoa đón mừng nở năm cánh đào... là một sáng tạo giàu sức gợi. Như cái bản lề khép mở hai không gian địa lý nội thành và ngoại thành, hình tượng cửa ô được nâng lên thành ngưỡng cửa của lịch sử. Bước qua “năm cửa ô” ấy tức là được về với Hà Nội, về với ngôi nhà yêu dấu. Cũng tức là một chiến thắng tuyệt đối. So sánh “như đài hoa” rất đắt, làm thay đổi triệt để sắc thái hình tượng. Không gian hành quân và tiếp quản được chuyển hóa thành không gian lễ hội. “Năm cửa ô” không còn chỉ là những cửa ngõ, mà trở thành những cánh hoa mở ra đón người trở về. Cả bài hát trở thành biểu tượng của mùa xuân lịch sử, của hòa bình, đoàn tụ. Ngoài các biểu tượng đẹp về sự hồi sinh (Chúng ta ươm lại hoa, sắc hương say ngày xa); về hạnh phúc (Những xuân đời mỉm cười vui hát lên), còn có biểu tượng “đêm” (Khi đoàn quân tiến về là đêm tan dần) không chỉ nói về giặc giã mà còn nói về những tàn dư thực dân, những bần cùng lạc hậu, phản động... Đặt trong thế tương phản, “đoàn quân” như ánh sáng chân lý xua tan bóng đêm thực dân phi nghĩa, bạo tàn.

Nhiều tư liệu về Văn Cao ghi rõ, đầu năm 1950, nhạc sĩ Tạ Phước đã dàn dựng ca khúc để biểu diễn phục vụ bộ đội và nhân dân. Từ môi trường biểu diễn trực tiếp, bài hát tiếp tục được phổ biến. Một sáng tác cá nhân nhưng nói lên được mẫu số chung tình yêu đất nước, mong ước hòa bình, tự do, bài hát nhanh chóng được trao truyền, lan tỏa để trở thành tiếng nói tinh thần của thời đại. Ngày giải phóng Thủ đô trở thành hiện thực với những hình ảnh đoàn quân tiến vào giữa rừng cờ hoa và sự chào đón nồng nhiệt của nhân dân, khiến người ta dễ nhận ra sự tương ứng với thế giới nghệ thuật mà Văn Cao đã hình dung từ năm 1949: Lớp lớp đoàn quân tiến về/ Chúng ta đi nghe vui lúc quân thù đầu hàng/ Cờ ngày nào tung bay trên phố... Không phải một “tiên tri” lịch sử mà là dự cảm lịch sử-một dự cảm nhờ sự thấu hiểu hoàn cảnh đất nước, thấu cảm khát vọng của cả dân tộc.

Khi hiện thực chưa đến, nhưng đã có thể đưa tương lai vào âm nhạc bằng khát vọng của con người trong hiện tại. Đó là tài năng. Giai điệu bài hát vang lên, không chỉ là để nghe một khúc quân hành mà còn là nghe nhịp bước của những người chiến thắng, nhịp bước của lịch sử sang trang. “Tiến về Hà Nội” cũng là về với hòa bình, với hy vọng, tin yêu. Năm 1949, Hà Nội là một tương lai được hình dung. Năm 1954, tương lai ấy trở thành hiện thực. Khoảng cách “chưa có” và “có” làm nên chiều sâu lịch sử của nhạc phẩm bất hủ. Vượt khỏi giới hạn của một ca khúc phục vụ một thời điểm để trở thành ký ức âm nhạc gắn liền với sự kiện lịch sử ngày giải phóng: Từ chia ly đến trở về, từ chiến tranh đến hòa bình, từ ước vọng đến hiện thực.

PGS, TS NGUYỄN THANH TÚ