Mùa hè năm cuối thập niên 1980, khi đang làm cộng tác viên khoa học ở Tiệp Khắc, tôi về nước thăm cha mẹ. Vừa dịp ông Hoàng Quốc Việt, nguyên Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cùng quê Bắc Ninh với cha tôi-Lê Quang Đạo, Chủ tịch Quốc hội khóa VIII-về thăm cơ sở cách mạng, tôi được “bám càng” theo.
Bấy giờ, ở tuổi ngoài 80, ông Hoàng Quốc Việt đã yếu nhiều. Câu chuyện với ông đã lúc được lúc không. Nhưng khi cùng ông vào thăm một gia đình cơ sở cách mạng cũ, tôi thực sự bất ngờ vì nhìn thấy một người khác hẳn. Ngay khi bước vào nhà, ông lập tức trở nên hoạt bát, vui vẻ, luôn miệng chào, thăm hỏi từng người, từ già đến trẻ.
Kết thúc chuyến đi, trở về nhà, tôi kể lại câu chuyện với cha tôi. Ông tủm tỉm: “Không như vậy thì ai người ta cho ở, cho ăn và che chở khi mình hoạt động cách mạng, thường xuyên bị mật thám rình bắt, lính dõng truy đuổi”. Dừng một lát, ông lặng đi, giọng đôi chút mắc nghẹn, dường như nín lại cảm xúc đang dồn nén: “Ngoài bác Việt, còn có bác Hoàng Văn Thụ. Bác Thụ rất được mọi người kính trọng về tài năng và chí khí, nhất là phong cách cởi mở, hòa đồng, có thêm nét thật thà, giản dị đặc biệt của người dân tộc”.
Qua những lần trò chuyện với cha mẹ, tôi còn được biết về mối tình đặc biệt giữa ông Hoàng Văn Thụ và bà Hoàng Ngân. Bà bị bắt năm 1941, trước khi ông bị bắt 2 năm. Thời gian này, hai người xem như đã đính hôn. Ông bà cùng bị giam ở Hỏa Lò tới ngày ông bị xử bắn năm 1944. Ngày đó, bà tháo chiếc áo len màu rượu nho, đan cho ông chiếc áo có cổ bẻ. Chuyện tình cảm động của hai người nổi tiếng với bài thơ ông viết trên chiếc quạt gửi lại bà. Với riêng tôi, ấn tượng sâu đậm và mạnh nhất là hai câu trong bài thơ này: “Phục thù chí lớn không hề nản/ Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành”.
Nhiều lần kể về bà Hoàng Ngân, Bí thư đầu tiên của Phụ nữ Cứu quốc Trung ương, mẹ tôi-nhà văn Nguyệt Tú luôn lặp lại mấy từ “xinh xắn, tình cảm, mạnh mẽ”, với giọng kính trọng trong tình thân sâu đậm. Đối với lứa cán bộ nữ lão thành cách mạng thời tiền khởi nghĩa như mẹ tôi, bà Ngân luôn được coi như “lãnh tụ phụ nữ”. Bà sáng lập kiêm chủ nhiệm tờ báo Phụ nữ Việt Nam, có mẹ tôi là biên tập viên lứa đầu. Trang nhất số báo đầu tiên có lá thư tay của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
“Thật đau xót!”, lần nào mẹ tôi cũng nghẹn ngào, “mẹ được xem bản thảo truyện ngắn “Chiếc áo len trong tù”, bác Hoàng Ngân viết về người yêu Hoàng Văn Thụ, xúc động lắm. Năm 1949, bác ấy qua đời khi mới 28 tuổi do kiệt sức vì làm việc quá mức và sốt rét ác tính, chỉ một năm sau ngày cưới của bố mẹ, có bác ấy làm đại diện nhà gái và đồng chủ hôn”...
    |
 |
Đồng chí Trường Chinh (thứ tư, từ phải sang), đồng chí Lê Quang Đạo (thứ tư, từ trái sang) cùng các cán bộ Ban Tuyên truyền Trung ương trong những năm kháng chiến. Ảnh do tác giả cung cấp
|
Ngoài ông Hoàng Quốc Việt, tôi còn may mắn trực tiếp được biết Tổng Bí thư Trường Chinh lúc sinh thời. Những năm 70 của thế kỷ 20, mỗi tuần, xem xong phim ở cơ quan Văn phòng Trung ương Đảng, tụi trẻ chúng tôi ra cổng, đi phía sau các bậc cha chú. Ông Trường Chinh đi trước, luôn để ý xung quanh, dường như sẵn lòng nhường lối. Gặp bất kỳ ai ở cổng, nhất là học sinh nhỏ, ông đều dừng lại, hỏi han thật thân tình: “Cháu tên gì, con bố mẹ nào? Cháu học lớp mấy?”.
Ở ông Trường Chinh toát lên sự chu đáo và cẩn thận, kỹ lưỡng, ẩn chứa cả nghiêm khắc nhưng rất chân thành. Cha tôi kể rằng, hồi ông còn đi học ở Hà Nội, họ hàng thường gửi cho ít tiền. Khi cha đã thoát ly đi hoạt động cách mạng, họ hàng vẫn gửi tiền giúp. Một hôm, thấy cha không yêu cầu tổ chức phải hỗ trợ tiền sinh hoạt, ông Trường Chinh lo lắng hỏi chuyện. Cha tôi hồ hởi báo cáo, với suy nghĩ mình đã thầm lặng tiết kiệm cho tổ chức. Nghe vậy, ông Trường Chinh nhẹ nhàng cười nhưng nghiêm giọng: Tiền họ hàng giúp cũng là góp cho cách mạng, phải dùng như của các cơ sở khác đóng góp, không được tiêu như tiền cá nhân.
Được trực tiếp gặp các ông Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, được nghe cha kể lại câu chuyện về ông Nguyễn Văn Cừ, ông Hoàng Văn Thụ, tôi thấy hình bóng các bậc tiền bối cách mạng, những người đi trước, trong phong cách sống và làm việc của cha. Ông Nguyễn Văn Cừ là người thầy đầu tiên giảng cho cha tôi về lý luận cách mạng, khi cha tôi còn đi học ở Hà Nội và gia nhập Đoàn Thanh niên Dân chủ.
Tính cha tôi cởi mở, dễ gần, năng động và tháo vát, cũng là điểm nổi trội, nét đặc sắc của văn hóa và con người Kinh Bắc, giống như và chắc chắn có ảnh hưởng từ ông Hoàng Quốc Việt. Ông Hoàng Quốc Việt từng là Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ từ năm 1937. Sau này, với tư cách Ủy viên Thường vụ Trung ương phụ trách Xứ ủy Bắc Kỳ, ông thường xuyên làm việc với cha tôi, nhất là thời gian cha tôi công tác ở Đình Bảng, Từ Sơn và Bắc Ninh, những năm 1940-1942.
Tính cẩn thận, kỹ lưỡng của cha tôi, nhất là với các văn bản, chịu ảnh hưởng lớn từ ông Trường Chinh. Cung cách của ông Trường Chinh, như tôi được trực tiếp chứng kiến, rất trùng khớp với lời cha tôi kể lại về việc ông Trường Chinh hướng dẫn, rèn giũa cha tôi, trong công việc nói chung và viết báo, làm biên tập nói riêng. Những năm 1942-1943, cha tôi là Bí thư Ban cán sự Đảng bộ tỉnh Phúc Yên, đồng thời viết báo và làm biên tập của Báo Cờ giải phóng (cơ quan ngôn luận của Đảng) và Báo Cứu quốc (cơ quan ngôn luận của Mặt trận Việt Minh).
Cả hai tờ báo này do ông Trường Chinh trực tiếp phụ trách. Ông hướng dẫn, sửa chữa cho cha tôi bắt đầu từ những bài viết ngắn. Thực sự là cha tôi học làm báo từ ông Trường Chinh. Khi về làm Bí thư Thành ủy Hà Nội, cha tôi còn có nhiệm vụ phổ biến Đề cương về văn hóa Việt Nam, tài liệu do ông Trường Chinh khởi thảo và trực tiếp viết. Sau ngày Toàn quốc kháng chiến, đầu năm 1949, cha tôi chuyển về làm Phó ban Tuyên truyền Trung ương Đảng do ông Trường Chinh, Tổng Bí thư kiêm Trưởng ban và được giao phụ trách trực tiếp Báo Sự thật đến năm 1950, trước khi cha tôi chuyển vào Quân đội.
Những năm 1940-1943, phong trào cách mạng ở Hà Nội bị đàn áp khốc liệt, nhiều lần Thành ủy bị vỡ, người bị bắt, người phải lánh đi. Khoảng đầu năm 1943, cha tôi được điều về làm Bí thư Thành ủy Hà Nội để khôi phục lại phong trào nên thường xuyên làm việc với ông Hoàng Văn Thụ. Tháng 8-1943, ông Thụ bị bắt và bị xử bắn vào tháng 5-1944. Nửa năm sau, cha tôi hút chết khi thoát khỏi đám mật thám vây bắt ở căn nhà trên phố Phó Đức Chính.
Tháng 10-1968, cha tôi ra Bắc sau một năm làm Chính ủy Chiến dịch Đường 9-Khe Sanh. Chỉ sau hai tuần nghỉ, cha tôi nhận nhiệm vụ làm Chính ủy Bộ tư lệnh 500 vừa được Quân ủy Trung ương thành lập, để khôi phục vận chuyển ở “vùng cán xoong”. Trước khi cha tôi lên đường, Bác Hồ gọi ông lên ăn cơm riêng. Bữa ăn đạm bạc, có vài lát thịt lợn nạc thái mỏng, một bát canh rau cải, một chén con nước mắm, mấy quả cà muối và hai quả chuối.
Làm việc liên tục trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt, tháng 5-1969, khi ông đang lội suối đi công tác, đột ngột bị một cơn đau tim nặng quật ngã, phải đưa về Hà Nội cấp cứu. Tháng 8-1969, Bộ tư lệnh 500 hoàn thành nhiệm vụ và giải thể. Cha tôi đã lãnh đạo suốt 7 tháng trong 9 tháng hoạt động của Bộ tư lệnh 500. Sau đó, ông tiếp tục giữ nhiều trọng trách trên các lĩnh vực khác nhau và đều để lại dấu ấn quan trọng.
TS NGUYỄN QUANG THẮNG