Về Lê Tần, cho đến nay tài liệu để lại cho chúng ta khá sơ lược: Không rõ ngày, tháng, năm sinh và mất, chỉ biết rằng, ông quê làng Bảo Thái, xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam (nay thuộc xã Liêm Hà, tỉnh Ninh Bình). Tổ tiên của Lê Tần thuộc dòng dõi Lê Hoàn, có tài văn võ, được triều đình nhà Trần trọng dụng. Năm 1250, ông được Vua Trần Thái Tông phong chức Ngự sử Trung tướng, trông coi công việc ở Viện Tam ty (chức quan phải có tri thức, am hiểu văn chương, lịch sử của các triều đại). Những năm giữ chức Ngự sử Trung tướng, Lê Tần là một lương thần thanh liêm, chính trực, được triều đình nhà Trần rất mực tin yêu.

Cuối năm 1257, hơn 3 vạn quân Nguyên Mông, do tướng Ngột Lương Hợp Thai tổng chỉ huy, với hai cánh quân do Triệt Triệt Đô chỉ huy, theo hai đường tả và hữu ngạn sông Thao tiến sâu vào nội địa nước ta; một bộ phận khác do A Truật, con của Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy, tiếp ứng cho các cánh quân của Triệt Triệt Đô.

Trước thế tiến công mạnh mẽ của quân xâm lược, quân triều đình và các lực lượng dân binh vùng biên giới Tây Bắc của ta ra sức chặn đánh, tiêu diệt một phần sinh lực, nhưng không thể ngăn chặn cuộc tiến công của quân giặc. Để cản đường tiến của giặc, sau khi xem xét địa hình, Vua Trần Thái Tông ra lệnh lập phòng tuyến ở Bình Lệ Nguyên (vùng Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, nay thuộc tỉnh Phú Thọ), dựa thế sông Hồng và sông Cà Lồ, để bảo vệ kinh đô Thăng Long và cử Lê Tần làm tướng tiên phong dàn trận ở phòng tuyến Bình Lệ Nguyên, sẵn sàng đánh chặn địch.

leftcenterrightdel
 Minh họa: QUANG HIẾU

Ngày 17-1-1258, khi quân Nguyên Mông tiến đến Bình Lệ Nguyên, gặp phòng tuyến của quân ta, chúng tìm cách vượt sông tiến đánh ồ ạt nhằm bao vây, chia cắt, không để quân ta kịp trở tay ứng cứu, chi viện cho nhau. Trong tình thế đó, với lực lượng ít hơn, nhưng được tổ chức chặt chẽ, tinh thần ý chí chiến đấu cao, quân Trần do Vua Trần Thái Tông và các tướng lĩnh chỉ huy quyết bám giữ trận địa đánh giặc.

Tướng tiên phong Lê Tần một mình một ngựa, chỉ huy, đốc thúc quân sĩ xông pha trận mạc, kiên cường giáp chiến với quân thù. Do địa hình ven sông Cà Lồ đồng trống và đồi thấp, quân Nguyên Mông đã dày dạn kinh nghiệm chinh chiến và phát huy được sở trường là sức mạnh của kỵ binh, trong khi quân ta dù với quyết tâm cao là đánh thắng trận đầu, nhưng nhiều năm không chiến đấu với giặc ngoài, nên trận địa phòng ngự của ta bị thu hẹp dần.

Trước sức tiến công mãnh liệt của giặc, nếu tiếp tục quyết chiến sẽ bất lợi, do đó, cần phải có sự lựa chọn đúng đắn, kịp thời nhất trong lúc hiểm nguy là tiếp tục chiến đấu đến cùng hay lui quân để bảo toàn lực lượng. Lúc đó, có người khuyên vua nên trụ bám ở phòng tuyến Bình Lệ Nguyên tiếp tục quyết chiến với giặc, nhưng với tướng Lê Tần tài ba, mưu lược, nhận thấy quân ta chưa thể đối đầu trực diện với quân Nguyên Mông nên đã khuyên vua chủ động lui quân để bảo toàn lực lượng, tính kế lâu dài. Lê Tần nói: “Nay thì bệ hạ chỉ đánh một ván dốc túi thôi! Hãy nên tạm lánh chúng” (dẫn theo “Đại Việt sử ký toàn thư”, tập 2, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 1998, trang 28). Việc rút lui chính là để bảo toàn lực lượng ta.

Kế chiến lược tạm thời lui quân của Lê Tần được Vua Trần Thái Tông và nhiều tướng đồng tình, chấp thuận, coi đó là kế sách vẹn toàn để vừa bảo toàn được lực lượng ta, vừa làm cho kế hoạch tiến công và ý đồ chiến lược của giặc bị thất bại ngay từ đầu. Đó là thành công về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, biết rút lui đúng lúc để bảo toàn lực lượng trước thế mạnh của quân thù như “Binh thư yếu lược” của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã viết: “Nên lui thì lui, đừng lui mà nhút nhát. Đem quân tới trận khi tiến khi lui, lường theo thế mà thôi... biết khó mà lui, lường thế không thể thắng được, bèn thu vén quân mà rút lui, hơn là tiến để mất vậy. Có thể tiến mà lại lui đó mới là lỗi. Người cầm quân giỏi có khi không tiến, lui mà tiến vậy”.

Theo kế sách của Lê Tần là “tạm lánh lui quân” để bảo toàn lực lượng, Vua Trần Thái Tông liền lệnh cho các tướng lĩnh và quân sĩ lên thuyền, xuôi theo sông Cà Lồ và tổ chức các đội dân binh liên tục tập kích quân địch để làm chậm bước tiến của chúng. Quân Nguyên Mông đuổi gấp, âm mưu cướp thuyền bắt sống Vua Trần.

Quá trình lui quân, khi Vua Trần đến bến Lãnh Mỹ thì xuống thuyền. Quân Nguyên Mông đuổi theo, đứng trên bờ bắn tên loạn xạ. Lê Tần chỉ huy hậu quân chặn đánh quyết liệt và chính Lê Tần đã lấy ván thuyền che cho vua khỏi trúng tên của giặc. Ngày 18-1-1258, thuyền của quân ta rút lui an toàn về vùng ngoại thành Hà Nội, đồng thời chủ động bày trận bên này sông Cà Lồ, lợi dụng địa hình sông nước để chặn bước tiến của kỵ binh địch. Quân Nguyên Mông buộc phải tìm chỗ nước nông, vượt sông tiếp tục tiến công vào khu vực trận địa của ta. Quân ta không ngăn cản nổi, phải rút về hướng Thăng Long, quân giặc tiếp tục đuổi theo.

Sau khi rút về Thăng Long, nhận thấy nếu tiếp tục phòng ngự để bảo vệ kinh thành trước thế giặc đang mạnh sẽ bất lợi, Lê Tần cùng triều đình nhà Trần thực hiện kế “thanh dã” (vườn không nhà trống), tạm thời rút khỏi kinh thành Thăng Long. Cuộc rút lui của quân ta được tổ chức chu đáo. Lê Tần cùng các tướng và quân sĩ theo sông Hồng về vùng sông Thiên Mạc thuộc phía Bắc Hà Nam (nay thuộc phường Duy Tiên và phường Duy Tân, tỉnh Ninh Bình), chấn chỉnh đội ngũ, củng cố lực lượng. Lê Tần được ra vào dưới trướng bàn việc cơ mật, cùng với Vua Trần Thái Tông, Thái sư Trần Thủ Độ và Tướng quân Trần Hưng Đạo, tạo thành bộ tham mưu chiến lược của cuộc kháng chiến.

Quân Nguyên Mông chiếm được kinh thành Thăng Long bỏ trống, nhưng đã rơi vào thế bị bao vây, cô lập, thiếu thốn lương thực, quân sĩ đói khát. Lo sợ bị tiêu diệt, Ngột Lương Hợp Thai bỏ thành Thăng Long, chuyển quân ra lập doanh trại trên bến Đông Bộ Đầu (đoạn dốc Hàng Than và phố Hòe Nhai, TP Hà Nội hiện nay).

Do không nắm được tình hình quân Trần nên quân Nguyên Mông phải án binh bất động. Nắm được tình thế quân địch, đêm 28 rạng 29-1-1258, quân Trần chia thành hai đường thủy-bộ, do Vua Trần Thái Tông tổng chỉ huy, tập kích bất ngờ vào trại quân địch trên bến Đông Bộ Đầu. Bị đánh bất ngờ, quân Nguyên Mông không kịp trở tay, Ngột Lương Hợp Thai phải ra lệnh mở đường máu tháo chạy, khi qua trại Quy Hóa bị quân dân địa phương đánh chặn, phải cố chống đỡ mới về được nước. Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược lần thứ nhất kết thúc thắng lợi.

Ngày 5-2-1258, triều đình nhà Trần mở hội mừng chiến thắng trong kinh thành Thăng Long, Lê Tần cùng Hà Bổng, Trần Khánh Dư được định công đầu, đứng trong hàng bậc nhất. Trong đó, Lê Tần được Vua Trần phong giữ chức Ngự sử đại phu, tước Bảo văn hầu và được ban quốc tính, mang tên Lê Phụ Trần (người có công giúp nhà Trần). Vua Trần Thái Tông cảm kích nói với Lê Tần rằng: “Trẫm không có khanh thì đâu có ngày nay”, rồi tác thành công chúa Chiêu Thánh (Lý Chiêu Hoàng) cho Lê Tần.

Như vậy, kế sách lui quân được Lê Tần đề xuất trong trận Bình Lệ Nguyên “thể hiện tầm nhìn chiến lược rộng lớn, tư duy phân tích thực tiễn nhạy bén, sâu sắc, góp phần quyết định thắng lợi của quân dân ta trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược lần thứ nhất, năm 1258” (dẫn theo “Danh nhân quân sự Việt Nam”, tập 1, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, năm 2004, trang 217).

Trong chừng mực có thể thấy, thành công của kế sách lui quân do Lê Tần đề xuất trong trận Bình Lệ Nguyên là một sự gợi nhắc, nếu không nói là người đặt nền tảng đầu tiên cho kế sách rút lui để bảo toàn lực lượng sau này được Trần Quốc Tuấn và các tướng lĩnh nhà Trần nâng lên thành một nghệ thuật đánh giặc độc đáo của dân tộc, được quân và dân Đại Việt vận dụng thành công trong hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược lần thứ hai (năm 1285) và lần thứ ba (1287-1288) tùy từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, góp phần to lớn đánh bại đội quân xâm lược hùng mạnh thời bấy giờ.

Đại tá, TS DƯƠNG ĐÌNH LẬP