Sau thất bại của Nam Kỳ khởi nghĩa năm 1940, tôi về Hà Tiên làm nghề dạy học và gặp được một số đảng viên cộng sản từ các tỉnh khác về lánh nạn. Trước đó, khi học ở Sài Gòn, tôi đã bí mật tham gia hoạt động trong Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội nhưng sau bị mất liên lạc. Do được giác ngộ từ trước nên tôi nhanh chóng cùng các đồng chí khôi phục một số cơ sở cách mạng. Một Tỉnh ủy lâm thời cũng được tổ chức nhưng các đồng chí ở Hà Tiên vẫn không liên lạc được với cấp trên nên việc nhận định tình hình và lãnh đạo phong trào gặp nhiều khó khăn.
Khoảng cuối tháng 3-1945, tôi về quê ở huyện Ô Môn (Cần Thơ) gặp anh ruột là Huyện ủy viên Nguyễn Văn Nam và được biết cả nước đang sôi nổi chuẩn bị giành chính quyền. Qua các anh trong Huyện ủy, tôi xin được 3 bản Điều lệ (Đảng Cộng sản, Đoàn Thanh niên Cứu quốc và Thanh niên Tiền phong) tóm tắt. Trở về Hà Tiên, tôi đưa tài liệu và báo cáo tình hình với Tỉnh ủy lâm thời. Các đồng chí nhất trí là phải tập trung sức phát triển Thanh niên Tiền phong (TNTP), đồng thời xây dựng tổ chức Thanh niên Cứu quốc làm nòng cốt.
Lúc đó, tuy tôi chưa phải là đảng viên nhưng được các đồng chí tin cậy, giao nhiệm vụ đứng ra tổ chức Phong trào TNTP do đồng chí Gia Long, Bí thư Tỉnh ủy lâm thời trực tiếp chỉ đạo. Các cơ sở đảng đều bí mật phối hợp, ủng hộ tôi hoạt động. Tôi trình bày kế hoạch phát triển TNTP, kể cả việc tranh thủ sự ủng hộ của Ðốc phủ, Tỉnh trưởng Tạ Trung Cang (Can).
Ngay sau khi Tỉnh ủy đồng ý, tôi đã có cuộc làm việc riêng với Tỉnh trưởng Tạ Trung Cang và nêu gợi ý để ông giúp đỡ cách mạng. Thật mừng là ông Cang tán thành và sẵn sàng ký vào bản thông tri cho các tổng, làng xã kêu gọi ủng hộ Việt Minh.
Sau một đêm suy nghĩ, tôi đã soạn thảo nội dung thông tri thật ngắn gọn, kín đáo, nghiêm túc mà Nhật, Pháp không bắt bẻ được. Tôi cho đánh máy nhiều bản, ông Tỉnh trưởng vui vẻ ký duyệt và dặn thêm nếu có trục trặc thì nói nhỏ cho biết ngay để cùng xử lý.
Cầm thông tri, tôi đi các làng từ phía Bắc (giáp Châu Đốc) đến phía Nam (giáp Rạch Giá) họp dân, tuyên truyền gia nhập TNTP. Ai đồng ý thì ghi tên, rồi tổ chức thành tổ, đoàn, tự bầu lấy người đứng đầu và thường xuyên báo cáo liên lạc với cấp trên để hoạt động.
Chỉ sau một tháng, Phong trào TNTP ở nông thôn phát triển nhộn nhịp, tác động mạnh đến thành thị nên việc tổ chức TNTP ở đây được thực hiện nhanh chóng, dễ dàng. Ở đâu cũng có sân tập võ, lò rèn vũ khí thô sơ từ sắt vụn, miếng bom làm gươm giáo... TNTP thu hút cả quần chúng trong các dân tộc Hoa, Khmer, Chăm và các đạo Cao Đài, Hòa Hảo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo. TNTP còn khuyến khích nhân dân trồng thêm khoai, củ mì để phòng đói. Ngoài ra, Phong trào TNTP từ các tỉnh khác dội về cũng làm cho khí thế chung rất sôi nổi, rầm rộ.
    |
 |
| Một buổi diễu hành của Thanh niên Tiền Phong. Ảnh tư liệu |
Lúc này, vấn đề thống nhất phong trào và huy động tập dượt lực lượng trở thành yêu cầu cần thiết trong lãnh đạo. Một cuộc mít tinh lớn huy động khoảng 80% lực lượng TNTP toàn tỉnh, đội ngũ chỉnh tề diễn ra tại tỉnh lỵ Hà Tiên. Tôi được toàn thể cuộc mít tinh đề cử làm thủ lĩnh TNTP Hà Tiên. Chúng tôi cũng bầu ra một Ủy ban nhân dân (UBND), chưa phải là chính quyền mà là cơ quan đại diện cho dân để làm việc. Sau khi góp ý và thông qua các đề án, anh em giới thiệu nhân sự và bầu bằng cách giơ tay. UBND “ướm thử” do tôi làm Chủ tịch.
Một hôm, Tỉnh trưởng Cang báo cho tôi biết viên thống đốc Nhật ở Nam Kỳ tên Sato sẽ tới vì “họ nghe nói Hà Tiên rục rịch lắm”. Tôi họp Ủy ban (bấy giờ chúng tôi còn gọi tránh là Câu lạc bộ) ngay tối hôm đó để nhận định tình hình và thống nhất phương án đấu tranh nếu bị đàn áp. Chúng tôi cho liên lạc hỏa tốc đi các nơi động viên toàn bộ lực lượng TNTP tập trung tại trụ sở Câu lạc bộ vào 6 giờ sáng hôm sau.
Sáng sớm hôm đó, khi Câu lạc bộ nổi trống, hàng ngàn người tập trung theo đội, đoàn kéo tới chật ních cả trong và ngoài trụ sở, đứng cả ở lề đường. Một số đội trương cờ đỏ. Riêng đoàn của đạo Cao Đài có mang theo băng đỏ với khẩu hiệu “Việt Nam độc lập muôn năm!” đứng phía trước.
Sato đến dinh tỉnh trưởng một lát rồi tới chỗ chúng tôi. Trong khi tôi giới thiệu anh em trong Ủy ban thì Sato nhìn nhớn nhác xung quanh rồi nói bằng tiếng Pháp với giọng gay gắt: “Các anh đừng nóng nảy! Nước Việt Nam trước đây là thuộc địa của Pháp, nay Nhật đã đuổi Pháp. Đất Việt Nam là đất của Nhật. Các anh muốn treo cờ gì thì treo trong nhà, còn ở cơ quan nhà nước phải treo cờ Nhật”.
Tuyên bố trắng trợn của y như đổ dầu vào ngọn lửa cách mạng đang bùng cháy. Dư luận quần chúng xôn xao, phẫn nộ. Ý thức độc lập dân tộc đã trỗi dậy, đòi hỏi phải giải quyết cả về tư tưởng và hành động. Quân Nhật tuy vẫn mang súng đi rầm rập ngoài đường nhưng có biểu hiện không can thiệp vào hoạt động của phong trào quần chúng. Tình hình đã chín muồi cho việc giành chính quyền. Tuy rằng không nhận được chỉ thị trực tiếp của cấp trên, tôi báo cáo, đề xuất ý kiến. Tỉnh ủy đã cân nhắc, thảo luận sôi nổi, chỉ thị cho các cơ sở cùng huy động lực lượng với TNTP và giao đồng chí Gia Long trực tiếp chỉ đạo tôi trong vấn đề giành chính quyền.
Khoảng 16 giờ ngày 28-8-1945, TNTP khắp tỉnh kéo về tỉnh lỵ, hàng ngũ chỉnh tề, trang bị vũ khí thô sơ đến dự cuộc mít tinh lớn với khí thế sẵn sàng hành động. Khi nêu vấn đề thái độ của Nhật qua tuyên bố của Sato, nhiều anh em lên diễn đàn phát biểu ý kiến rất hăng, quyết phải tự mình giành lấy độc lập. Lập tức cuộc mít tinh chuyển thành cuộc biểu tình vũ trang giành chính quyền, kéo lên dinh tỉnh trưởng. Khi ông Tạ Trung Cang bước ra tiếp đoàn biểu tình, tôi thay mặt nhân dân nói đại ý về thái độ của Pháp, Nhật và biểu lộ quyết tâm của nhân dân phải tự giành độc lập, bảo vệ quê hương, đất nước và đề nghị ông cho biết ý kiến. Ông tỉnh trưởng xin tự nguyện trao chính quyền địa phương cho cách mạng. Liền theo đó, tôi nói: “Ông Cang đã có ý kiến rồi. Ông không phải là tay sai ác ôn của đế quốc mà ông cũng là người yêu nước. Do đó, tôi xin phép giới thiệu ông tham gia UBND tỉnh Hà Tiên. Xin đồng bào cho ý kiến!”.
Mọi người lại hoan hô. Tôi mời ông Cang ra cùng chúng tôi dẫn đầu đoàn biểu tình kéo đến chùa Giếng Nước để làm lễ tuyên thệ. Đây là sáng kiến của thi sĩ Đông Hồ (tên thật là Lâm Tấn Phác), một thành viên của Ủy ban. Trước bàn thờ Tổ quốc, tập thể UBND đứng ra tuyên thệ đầu tiên. Chúng tôi thề đem hết tinh thần, trí óc, cả xương máu mình để bảo vệ đất nước. Bất kỳ khó khăn, gian khổ nào, chúng tôi cũng cố gắng vượt qua để làm tròn trách nhiệm đấu tranh cho độc lập của Tổ quốc!
Sau ngày 28-8, tuy cách mạng đã nắm được chính quyền nhưng đồn lính Pháp, Nhật vẫn còn. Riêng lính Nhật có khoảng một trung đội canh giữ cả một hệ thống kho lớn đầy ắp lương thực, thực phẩm. Trong đó có khoảng 20 kho nằm rải rác quanh sườn núi Tô Châu. Nhân dân Hà Tiên vốn nghèo, rất thiếu lương thực. Nếu không tranh thủ chiếm các kho này thì rất có thể sẽ bị địch lấy đi hết. Tôi và anh Đông Hồ thay mặt nhân dân đến điều đình với sĩ quan chỉ huy Nhật, yêu cầu chuyển giao các kho cho chúng tôi. Chúng tôi cảnh cáo nếu để dân đói, họ sẽ cướp hoặc đốt kho, chúng tôi không chịu trách nhiệm.
Tuy nhiên, tới lui nhiều lần để thương lượng nhưng không có kết quả. Cuối cùng, chúng tôi quyết định bố trí lực lượng cảm tử vũ trang bằng lựu đạn, súng lửa vây đồn, áp sát, còn vòng ngoài là dân quân bao vây tứ phía. Khi đang giằng co thì một kho trên núi Tô Châu phát hỏa khiến lính Nhật hốt hoảng. Lại thêm quyết tâm của UBND, quân Nhật mới chịu giao kho nhưng yêu cầu phải dời xong trong vòng 4 ngày. Chúng tôi phải huy động nhân dân từ chợ đến nông thôn với đủ phương tiện tới kho mới xong việc chuyển hàng theo thỏa thuận.
Đối với đồn Hà Tiên có tên quan Pháp chỉ huy khoảng một trung đội, nếu tổ chức đánh đồn thì Nhật sẽ can thiệp. Sau khi bàn bạc, Ủy ban quyết định làm công tác tư tưởng để cho bọn chúng tự rã ngũ. Chúng tôi phân công nhau đi gặp riêng từng người, nói rõ tình hình khẩn trương trên cả nước, họ không thể giữ đồn được.
Quan Tây đã đưa gia đình về Sài Gòn và chắc chắn sẽ trốn. Các anh cai Đồng, cai Cội, cai Sao đề xuất chủ trương “trốn”, vũ khí gom lại một chỗ và báo vị trí cho chúng tôi lấy. Ai có vợ con thì cho di tản trước và đi thành từng đợt tránh làm ồ ạt. Sau vài hôm, đồn lính vắng hoe, chỉ còn một quản già ở lại. Ta thu một số vũ khí. Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, toàn bộ chính quyền tỉnh Hà Tiên đã về tay nhân dân.
VĂN TÁM - CÔNG ĐẶNG (Theo lời kể và hồi ký của nhà giáo Nguyễn Ngọc Lầu, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tiên, nguyên Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính tỉnh Long Châu Hà)