Hôm ấy là ngày 4-4-1971. Trong tuyệt vọng, tôi nghĩ đến cái chết. Tôi nhớ quê hương-làng Đoan Túc của xã Tiền Phong, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình (nay thuộc phường Thái Bình, tỉnh Hưng Yên), nhớ bố mẹ và các anh chị em, bà con lối xóm, nhớ những cái Tết đầm ấm với gia đình. Tôi nhớ những ngày huấn luyện tân binh tại Trung đoàn 51 ở Thái Thụy, được nhân dân yêu quý như con em. Sau hơn 3 tháng huấn luyện, ngày 20-8-1970, cả đơn vị được lệnh lên đường hành quân chiến đấu.

Sau những tháng ngày vượt núi, băng rừng bằng đôi chân của mình, chống chọi với những đợt rải thảm của máy bay B-52 Mỹ, ngày 4-12-1970, tôi và đồng đội cũng đến được đơn vị mới. Đó là Đại đội 2, Tiểu đoàn 95, Binh trạm 50, Sư đoàn 470 Trường Sơn. Đơn vị đóng ở phía Bắc suối Tà Ngâu, một điểm trên biên giới Lào-Campuchia, cách ngã ba Đông Dương khoảng 6 cây số. Nhiệm vụ của đơn vị chúng tôi là mở và thông tuyến Đường 49A từ ngã ba Đông Dương vào đến Bắc sông Sê San để cho xe ta chở hàng chi viện cho chiến trường B2 và B3.

leftcenterrightdel
Ông Đào Mạnh Hạ (bên trái), Trưởng ban liên lạc Hội truyền thống Sư đoàn 470 Thái Bình (nay là Hưng Yên) trong một lần trao quà tặng hội viên. Ảnh do nhân vật cung cấp 

Đơn vị bước vào chiến dịch thi đua chào mừng 26 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 / 22-12-1970), chào mừng chuyến xe đầu tiên từ hậu phương lớn vào đơn vị. Đang vào giai đoạn gấp rút hoàn thành chiến dịch thì ngày 17-12-1970, tôi bị sốt rét. Cách một ngày lại lên cơn sốt, cứ ngủ trưa dậy là người gai gai sốt, đau đầu, mỏi gáy, khát nước, khô miệng, thèm chua, chân tay nhức mỏi. Tuy vậy, ban ngày tôi vẫn ra tuyến, ban đêm vẫn đảm nhiệm ca gác. Sau gần một tháng, ngày 11-1-1971, tôi bị tái phát sốt rét, đến trận thứ ba thì bắt đầu rét. Rét run cầm cập, hai hàm răng cắn chặt vẫn không hết rét... Sau 5 trận như thế, được quân y tiêm thuốc và chăm sóc, tôi mới cắt được sốt.

Ngày 17-1-1971, sau hơn nửa tháng thi công thì máy bay trinh sát OV-10 và L-19 của địch phát hiện Đường 49A kéo dài từ binh trạm vào sâu trong đất Campuchia rồi chỉ điểm cho máy bay AD-6 đến ném bom. Chúng đánh phá quyết liệt bằng bom phá, bom phát quang, bom từ trường, bom vướng nổ... Ban đêm, máy bay AC-130 phát hiện xe ta bằng tia hồng ngoại, chúng bắn pháo hoặc đại liên bằng tia laser. Hơn nửa tháng chống chọi với bom đạn của địch, lực lượng Tiểu đoàn 95 hầu như an toàn. Địch đã trút xuống cung đường đơn vị tôi đảm nhiệm không biết bao nhiêu bom đạn, thế nhưng chỉ có hai quả trúng ngầm. Một quả trúng ngầm Tà Ngâu, một quả trúng ngầm huội Ông Giảng. Nhưng nhờ công tác chuẩn bị chu đáo nên sau đợt ném bom của địch vài giờ là chúng tôi khắc phục xong, không đêm nào bị tắc đường.

Mồng 5 Tết Tân Hợi 1971, tôi bị tái phát sốt rét lần thứ ba. Lần này thân nhiệt cao hơn, cơn rét kéo dài. Sang ngày thứ hai, y tá phải tiêm mông cho tôi. Đau và buốt, tiêm xong phồng lên bằng nắm tay, phải dùng nước nóng đổ vào bi đông để chườm cho tan dần. Tuy sốt cao nhưng tôi vẫn xin chỉ huy cho ra tuyến đường cùng anh em. Anh Bàn, Tiểu đội trưởng khuyên nghỉ ở nhà nhưng tôi không chịu. Lúc đó, chúng tôi sống có lý tưởng, có ước mơ, hoài bão. Vả lại, khí thế thông đường sục sôi nên đã thôi thúc chúng tôi quên hết bệnh tật để ra tuyến đường.

Ngày 27-3-1971, tôi bị sốt rét tái phát lần thứ tư, thân nhiệt có lúc lên tới 40 độ C, cơn rét kéo dài hơn, tiêm mông bao nhiêu lần cũng không dứt sốt, sức khỏe suy kiệt không ra mặt đường được. Trước khi vào chiến trường, tôi thuộc loại to cao, khỏe mạnh của đơn vị, nay gầy đét, chỉ còn 38kg. Chỉ huy đơn vị cho tôi đi điều trị tại Đội điều trị K6 ở bờ Tây sông Sê Công. Cùng đi với tôi còn có 6 bệnh nhân nữa do anh Sinh, Tiểu đội phó chỉ huy.

Đường đến K6 phải xuyên qua cánh rừng khộp, cây cối thưa, đường bằng không có dốc, nhưng dày đặc ổ giun, trông như những nấm mộ nhỏ. Vì người đi rừng thường phải đi theo vết chân thú qua các khe ổ giun nên bộ đội ta vạc vỏ cây khộp để đánh dấu đường đi. Khu rừng này còn có những khe suối chảy ra sông Sê Công, hai bên bờ khe là những khóm tre gai, càng xuống hạ lưu càng dày đặc.

Tôi là người yếu nhất trong số phải đi viện, tóc rụng gần hết, hai tay chống gậy, ba lô chỉ đựng vài bộ quần áo cũng phải nhờ anh Sinh mang giùm. Đi được một lúc, tôi kiệt sức, chân tay mỏi nhừ, hai tai ù đặc, mắt hoa, bước đi không vững nên bị lạc đồng đội khi nào không hay. Thế là tôi vừa đi vừa hú gọi, ban đầu thì to, sau nhỏ dần vì khát và mệt. Ngồi nghỉ một lát, lại đi lại hú, khoảng 12 giờ trưa lên cơn sốt, tôi nằm thiếp đi khi nào không hay. Vài lần đang mơ mơ màng màng, tôi chợt nghe tiếng súng bắn để báo hiệu tìm đồng đội, tỉnh lại thì chẳng biết hướng nào.

Khu rừng này có rất nhiều thú rừng, dấu chân, phân và nước tiểu của chúng. Ban ngày chúng ở trong rừng kín, ban đêm đi tìm mồi ở các ổ giun, tìm nước để uống. Theo lời khuyên của các anh từng có kinh nghiệm đi rừng, nên tránh những điểm này. Nhưng càng tránh, tôi càng lạc sâu vào rừng. Cứ như vậy, tôi lê lết trong rừng gần 7 tiếng đồng hồ. Đói, khát, lo lắng đến kiệt quệ, tôi lại thiếp đi, mặc cho ve bám đầy người...

Đoàng, đoàng, đoàng... Tiếng súng AK bắn quy ước rất gần. Tôi bật dậy, cố hú một tiếng thật to. Lát sau, một bóng người lao đến ôm chầm lấy tôi. Đó là anh Sinh. Anh nói với giọng nghẹn ngào:

- Có mấy cây số thôi mà tớ tìm cậu hết cả hơi, từ sáng đến giờ chưa được ăn uống gì. Thôi, thế là sống rồi. Cố gắng vịn vào tớ mà đi cho kịp đồng đội nhé, trời sắp tối rồi.

Anh Sinh người Yên Bái. Tuy khác tiểu đội nhưng anh rất quý tôi-một chàng trai hiền lành, chăm chỉ và thạo việc, nay bị sốt rét quật ngã, đi không nổi. Anh Sinh dìu tôi đến bờ sông Sê Công rồi hú gọi. Một chiếc thuyền độc mộc bên kia bờ lao sang, đưa chúng tôi sang sông. Đến Đội điều trị K6, anh Sinh bàn giao cho y tá rồi vội vã trở về đơn vị...”.

Câu chuyện trên được cựu chiến binh Đào Mạnh Hạ kể cho tôi nghe vào một buổi sáng cuối năm 2025 tại nhà riêng của anh ở phường Thái Bình, tỉnh Hưng Yên. Sau buổi lạc rừng nhớ đời đó, anh tiếp tục phục vụ Quân đội cho đến tháng 4-1985 thì chuyển ngành về Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Thái Bình với quân hàm Thượng úy. Ở vị trí công tác mới, Đào Mạnh Hạ luôn giữ gìn và phát huy truyền thống của Bộ đội Cụ Hồ, Bộ đội Trường Sơn anh hùng, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Về hưu, anh tham gia Hội Cựu chiến binh Việt Nam, được bầu làm Chủ tịch Hội truyền thống Sư đoàn 470 Thái Bình và Phó chủ tịch Hội Truyền thống Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh tỉnh Thái Bình. Phát huy phẩm chất người lính Trường Sơn năm xưa, anh luôn tận tụy với công việc, tổ chức nhiều đợt thăm hỏi, tặng quà, quyên góp giúp đỡ những đồng đội có hoàn cảnh khó khăn. Anh nói:

 - Chuyện của tôi so với những gian khổ, vất vả, hy sinh của đồng đội thì chẳng thấm vào đâu, nhưng để lại trong tôi một kỷ niệm không bao giờ quên. Đó là tình đồng chí, đồng đội trong cơn hoạn nạn, để giờ đây là nguồn lực cho tôi cố gắng noi theo.

HỒNG SƠN