Ngày 20-9-1945, đoàn ghe, tàu do các ông Trương Dân Bảo (có tài liệu viết là Tưởng Dân Bảo) và Lý Văn Chương chỉ huy rời bến. Sau hai ngày đêm vượt biển trong điều kiện sóng to gió lớn, đoàn ra tới nơi và được hòa mình vào bầu không khí vỡ òa niềm vui vô bờ bến của các đồng chí và người dân trên đảo. Trước đó, qua nhiều nguồn tin và sự thay đổi trong cách hành xử cũng như thái độ của bọn cai ngục, tù nhân và nhiều người dân trên đảo đã phần nào biết được tình hình nổi dậy giành chính quyền ở các địa phương trong đất liền. Trước tình hình đó, Chi bộ Đảng và Ban lãnh đạo tù nhân đã họp bàn và dự liệu một số tình huống có thể xảy ra.

Tối 18-9, Ban quản giáo nhà tù Côn Đảo nhận được “tối hậu thư” của Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ yêu cầu trả lại tự do cho những người bị giam cầm và tạo điều kiện cho tù nhân trở về đất liền. Chúa đảo và bọn cai ngục vốn đã lo lắng, hoang mang từ trước đó nên khi nhận được “tối hậu thư” lại càng bối rối.

Nhiều công chức, nhân viên bộ máy cai quản nhà tù thức thời đã bắt đầu làm quen với các tù chính trị. Sự đàn áp tù nhân vốn tàn khốc và xảy ra thường ngày bỗng lắng dịu đi trông thấy, không khí ngột ngạt ở các xà lim thông thoáng dần... Ban lãnh đạo và đông đảo tù nhân kiên nhẫn chờ đợi cơ hội trở về đất liền và cơ hội đó đã đến với họ vào ngày 22-9-1945, đúng một ngày trước khi tiếng súng kháng Pháp vang lên ở Nam Bộ.

Theo cựu tù Mai Trọng Phước (sau là Đại tá, Cục trưởng Cục Xăng dầu, Tổng cục Hậu cần, mất năm 2023), đoàn ghe, tàu được đánh số thứ tự, trong đó có chiếc tàu gỗ lớn nhất mang tên Phú Quốc do ông Trương Dân Bảo, đoàn trưởng kiêm thuyền trưởng, còn lại là ghe. Đặc biệt, trong số đó có một chiếc ca nô do đồng chí Tôn Đức Thắng, người kéo lá cờ đỏ trên chiến hạm của Pháp ở Biển Đen năm xưa trực tiếp chỉ huy. Chiếc ca nô này do quân đội Nhật bỏ lại, được người thợ máy Tôn Đức Thắng sửa chữa, phục hồi. Bên sườn ca nô có hai chữ Giải Phóng.

Do lượng tù nhân đông, phương tiện không đáp ứng đủ nên đoàn phải chia làm hai đợt: Đợt 1 về đến Sóc Trăng đúng ngày Nam Bộ kháng chiến 23-9; đợt 2 về đến Cần Thơ ngày 30-9. Nhớ lại bầu không khí trên cầu tàu Côn Đảo ngày ấy, nhà nghiên cứu, cựu tù chính trị Vũ Lân bồi hồi: “Hôm đó, trên cầu tàu rợp cờ đỏ sao vàng, những lá cờ được anh em tù nhân may vội sau khi ta thu được kho vải của địch. Người về, kẻ ở bịn rịn... ôm hôn tạm biệt, chia tay nhau trong nước mắt, những giọt nước mắt đầy sung sướng và cảm động.

Không chỉ có anh em bạn tù, người dân ra đưa tiễn mà còn có cả những công chức, viên chức của nhà tù; rồi cả các lính canh, cai ngục và gia đình, người thân của họ cũng ra bến tàu đưa tiễn với những lời chúc đoàn vượt biển thuận buồm xuôi gió, chúc những tù nhân ốm yếu, bệnh tật mau chóng phục hồi sức khỏe. Nhiều người còn gửi lời chào Việt Minh, chào Chính phủ, cảm ơn Việt Minh và Chính phủ đã đổi đời cho đất nước, cho dân tộc, cho gia đình mình”.

leftcenterrightdel
 Khu "chuồng cọp" ở nhà tù Côn Đảo do thực dân Pháp xây dựng. Ảnh tư liệu

Ông Đào Văn Trường, cựu chính trị phạm của nhà tù Côn Đảo (sau là Đại tá, Phó tổng Tham mưu trưởng, mất năm 2017) từng kể: “Trong số 25 chiếc tàu, ghe đó thì tàu Phú Quốc là lớn nhất, chở gần 200 người, chủ yếu ưu tiên những tù nhân cao tuổi, bệnh tật, sức khỏe yếu và một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở nhà tù như các anh: Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Lê Văn Lương, Võ Sĩ, Mai Chí Thọ, Phạm Hữu Lầu, Nguyễn Hữu Xuyến, Võ Thúc Đồng, Vũ Xuân Chiêm... cùng 16 chiến sĩ quốc tế. Trên ca nô Giải Phóng chở 13 người: Tôn Đức Thắng, Phạm Hùng, Phan Trọng Tuệ, Nguyễn Văn Vịnh, Lã Vĩnh Lợi, Nguyễn Trọng, Trần Văn Sớm, Nguyễn Hữu Trước, Nguyễn Hùng Minh, Nguyễn Hùng Phước, Đỗ Sâm, Trần Diệp và tôi. Số anh em còn lại chủ yếu “cưỡi” ghe, ghe lớn chở gần trăm người, ghe bé cũng trên dưới 3 chục anh em. Dẫn đầu đội hình là chiếc ca nô, tiếp đến là tàu Phú Quốc và sau đó là các ghe theo số thứ tự đã đánh từ trước lần lượt rẽ sóng ra khơi.

Đoàn tàu, ghe vừa đi được vài tiếng thì gặp mưa to, gió lớn bất ngờ ập tới. Sóng cao ngất, số đi trên các ghe bé và ca nô căng mình vật lộn chống chọi; nhiều người sức yếu nằm dài trên mặt ghe nôn thốc tháo ra mật xanh, mật vàng. Ca nô chúng tôi bị nước tràn vào. Trừ mấy anh say sóng, còn lại thay nhau tát nước. Ai cũng lẩm bẩm cầu khấn mong ca nô không bị sóng đánh chìm.

Một con sóng dữ ập đến trùm lên ca nô, thổi bay chiếc la bàn rơi xuống biển. Anh em chúng tôi lo lắng bàn tán với nhau vậy là mất phương hướng rồi. Trong thời khắc thập tử nhất sinh đó, anh Hai Thắng (Tôn Đức Thắng) hô to động viên anh em bình tĩnh rồi nắm lấy vô lăng điều khiển ca nô vượt qua từng con sóng dữ. Bỗng anh sờ nắn vào túi quần rồi reo lên: “Đây rồi! Có “phao cứu sinh” đây rồi!”. Anh lấy ra một chiếc la bàn nhỏ xíu mà trước đó vẫn thường sử dụng. Tất cả mọi người ồ lên sung sướng. Vậy là nỗi lo bị lạc trên biển đã xua tan; còn chuyện vượt qua dông bão, chúng tôi tin kinh nghiệm đi biển dạn dày của anh Hai Thắng sẽ chèo chống được. Khoảng một tiếng sau thì dông bão lặng dần.

Dù còn ở khá xa nhưng ai cũng căng mắt mong ngóng được nhìn thấy đất liền. Anh Hai Thắng bảo: Cứ nhìn nước biển, nhìn chim bay trên trời; hễ thấy nước biển trong là còn xa bờ, nước đục là gần vào đến bờ; thấy chim nhạn mỏ cắp lá là còn xa bờ, mỏ không cắp lá là sắp vào tới đất liền”. 

Sau một ngày đêm vật lộn với sóng dữ, đoàn ghe, tàu cũng về tới đất liền. Ông Vũ Lân kể: “Khi tiến vào gần, chúng tôi nhìn lên bờ thấy rất nhiều người tay cầm cờ, biểu ngữ tung, vẫy. Điều lạ là trong “rừng” cờ đỏ sao vàng ấy lại còn có cả những lá cờ nền vàng, sao đỏ (cờ của Thanh niên Tiền phong) và cả đạo kỳ của đạo Cao Đài nữa. Chúng tôi thắc mắc hỏi nhau: “Đất mình hay xứ người đây?”; đồng thời nhắc nhau phải cảnh giác đề phòng. Đúng lúc đó thì từ trên bờ vang lên tiếng reo hò: “Hoan hô Việt Minh! Hoan hô chánh trị phạm!”, và rồi khi còn cách bờ vài chục mét, cả đoàn người ào xuống nước vây lấy và leo lên ca nô, tàu, ghe. Lúc này, chúng tôi mới biết đây là cửa biển Mỹ Thanh thuộc tỉnh Sóc Trăng.

Chúng tôi vừa đặt chân lên bờ thì được anh em ở Tỉnh ủy lâm thời Sóc Trăng ra đón và báo tin cho biết là ngày 23-9, quân Pháp đã nổ súng gây hấn ở Sài Gòn. Tỉnh ủy được lệnh đón và đưa tất cả anh em về thị xã Sóc Trăng đợi chỉ thị của Xứ ủy. Các anh Hai Hùng (Phạm Hùng), Hai Thắng (Tôn Đức Thắng) và Bảy Tuệ (Phan Trọng Tuệ) hội ý chớp nhoáng rồi chỉ thị: Ca nô Giải Phóng không cập bến mà theo hướng dẫn của cán bộ cơ sở tiếp tục hành trình theo sông về thẳng thị xã Sóc Trăng. Riêng anh Hai Hùng tách đoàn xuống Đại Ngãi đón tàu gỗ Phú Quốc”.

Trong số 25 chiếc tàu, ghe, ca nô, chỉ có mấy chiếc về trước cập bến Mỹ Thanh, còn phần lớn lần lượt về cập bến Đại Ngãi. Trong số đó có 2 chiếc ghe bị đi lạc qua Thái Lan, mãi về sau mới tìm được đường về nước.

Sau khi cập bến, đoàn tàu, ghe lại quay trở ra Côn Đảo đón số anh em tù nhân còn lại đi chuyến thứ hai. Lần này đoàn cũng ghé vào cửa biển Đại Ngãi nhưng không cập bến mà theo sông Hậu về cập bến Cần Thơ vào ngày 30-9.

Ngay sau khi đặt chân lên bờ, số anh em ốm yếu, bệnh tật được xe hồng thập tự đón, đưa ngay về bệnh viện. Số còn lại được đón về nghỉ tại Trường Trung học Phan Thanh Giản vừa được đổi tên từ College de Cần Thơ (nay là Trường THPT Châu Văn Liêm). Sau mấy ngày nghỉ ngơi cho lại sức, tất cả (kể cả số về Sóc Trăng trước đó) tập trung dự lớp bồi dưỡng chính trị tại đình Tân An. Đồng chí Hoàng Quốc Việt, Ủy viên Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng trực tiếp phụ trách lớp cùng các ông Cao Hồng Lãnh, Phạm Văn Bạch và một số cán bộ Xứ ủy tham gia lên lớp.

Ông Vũ Lân nhớ lại: “Hồi đó, được tiếp thu nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, anh em chúng tôi như thấy mình khỏe ra và trưởng thành lên. Hạnh phúc nhất là qua thì thầm rỉ tai nhau mà nhiều người biết được lãnh tụ Hồ Chí Minh chính là cụ Nguyễn Ái Quốc, người mà chúng tôi đã nhiều lần nghe bọn cai ngục nhắc tên với một thái độ nể trọng từ ngày còn trong lao tù Côn Đảo”...

Sau ngày vượt biển trở về, như đại bàng tung cánh, các chiến sĩ cựu tù Côn Đảo, người lao ngay vào trận chiến chống quân xâm lược Pháp, người tỏa đi xây dựng cơ sở chính trị ở các địa phương phòng nguy cơ chiến tranh lan rộng, người chuyển sang Quân đội làm nòng cốt phát triển LLVT, người ở lại bám trụ xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng non trẻ... Nhiều người trong số đó về sau trở thành những cán bộ xuất sắc của Đảng, tướng lĩnh tài ba của Quân đội, có nhiều cống hiến xuất sắc trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc của dân tộc.

TRẦN VĨNH THÀNH