Trước Cách mạng Tháng Tám, Ông Đình là vùng nông thôn nghèo, có hơn 300 mẫu công điền với hơn 300 suất đinh. Mỗi suất đinh chỉ được cấp 7 sào Bắc Bộ (1 sào bằng 360m2). Khi suất đinh qua 50 tuổi hoặc chết thì số ruộng được cấp bị thu hồi. Do đó, người dân quê tôi thường xuyên rơi vào cảnh nghèo đói, phải đi các nơi cày thuê, cuốc mướn, làm tá điền hoặc phải đi ở đợ.
Gia đình tôi cũng trong hoàn cảnh đó. Bố tôi làm tá điền ở ấp Cự Hiên (Khoái Châu), mẹ làm vú em cho một gia đình họ Phan ở ấp Thái Hà (Hà Nội). Khi tôi 12 tuổi, điều không may ập đến gia đình-bố tôi đột ngột qua đời ở tuổi 37. Lúc đó, em thứ hai của tôi 8 tuổi, em thứ ba mới biết bò. Mẹ bằng tuổi bố tôi, một mình nuôi 3 con còn nhỏ dại. Sau khi bố tôi mất, chính quyền thu hồi 7 sào công điền mà bố tôi được cấp. Thế là cả gia đình rơi vào tình trạng vô cùng khốn quẫn, ruộng không có để sản xuất, nhà cũng nằm trên đất ở nhờ. Mẹ tôi hằng ngày phải sang làng bên làm mướn, một ngày được hai bữa ăn, nhưng mẹ chỉ dám ăn bữa trưa, còn bữa tối mẹ đùm vào vạt áo mang về cho các con đang đói bụng ở nhà chờ.
Không chỉ gia đình tôi mà bà con làng xóm, quê hương cũng rơi vào cảnh đói khổ, lầm than. Một trong những nguyên nhân là do tội ác của phát xít Nhật, đẩy nhân dân ta vào cảnh “một cổ hai tròng”. Nhật ép Pháp ký các hiệp ước cung cấp lương thực, giao nộp lúa gạo với giá rẻ mạt và trưng thu triệt để nhằm phục vụ chiến tranh. Không những thế, chúng còn có chính sách “nhổ lúa trồng đay”. Nhật cưỡng bức nhân dân các tỉnh miền Bắc phá bỏ diện tích trồng lúa để chuyển sang trồng đay và thầu dầu. Các chính sách tàn bạo trên kết hợp với thiên tai, đầu cơ đã dẫn đến nạn đói thảm khốc năm 1945, cướp đi sinh mạng của hơn 2 triệu đồng bào...
Đầu năm 1945, Phong trào Việt Minh lan tỏa tới địa bàn huyện Khoái Châu. Tháng 3-1945, tôi được các chú cán bộ Việt Minh đưa vào hoạt động cùng một số người khác làm nhiệm vụ rải truyền đơn, đem thư của Việt Minh cảnh cáo một số chức sắc làm việc tích cực cho chính quyền Pháp-Nhật.
Ngày 15-8-1945, lực lượng Việt Minh cùng quần chúng cách mạng huyện Khoái Châu và huyện Kim Động đã phối hợp tấn công thẳng vào trung tâm huyện lỵ Khoái Châu, ép chính quyền bù nhìn đầu hàng, tịch thu vũ khí, con dấu, sổ sách của chính quyền. Sáng sớm hôm ấy, các mũi tự vệ vũ trang cùng hàng nghìn quần chúng cách mạng giương cao cờ đỏ sao vàng, hô vang khẩu hiệu, rầm rập tiến về trung tâm huyện lỵ Khoái Châu. Tôi trực tiếp tham gia rải truyền đơn. Lực lượng tự vệ nhanh chóng áp sát, bao vây toàn bộ khu vực huyện đường. Nhìn thấy lực lượng cách mạng đông đảo và khí thế hừng hực, binh lính bảo an và nha lại bên trong hoang mang tột độ, không dám nổ súng chống cự. Các chiến sĩ tự vệ tiên phong xông thẳng vào huyện đường. Ta nhanh chóng tước vũ khí của binh lính, thu giữ toàn bộ sổ sách, tài liệu và con dấu của chính quyền phong kiến, thực dân. Viên tri huyện Khoái Châu cùng bộ máy nha lại tay sai đã phải cúi đầu khuất phục, tuyên bố đầu hàng và chuyển giao chính quyền cho Mặt trận Việt Minh.
Ngày 20-8-1945, chính quyền cách mạng lâm thời huyện Khoái Châu được chính thức thành lập. Hai ngày sau, hàng vạn quần chúng vũ trang tiến vào tỉnh lỵ, thành lập Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Hưng Yên. Đến ngày 25-8-1945, hệ thống chính quyền cách mạng cơ sở toàn tỉnh Hưng Yên căn bản hoàn thành.
Cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi trên cả nước Việt Nam. Gia đình tôi được chính quyền cách mạng cấp cho 1 mẫu ruộng, cuộc sống bớt phần khó khăn. Từ tháng 9-1945, thực dân Pháp quay lại đánh chiếm nước ta một lần nữa. Năm 1947, quân Pháp đã tràn tới quê hương Khoái Châu, Hưng Yên lập đồn bốt, cướp bóc, đốt phá nhà cửa, bắn giết người dân. Làng tôi cũng bị chúng đốt phá nhiều lần, một số bà con bị giết, trong đó có hai bố con người bác của tôi. Cảnh quê hương, làng xóm hoang tàn, nhà cửa bị đốt phá, người dân bị giặc giết hại đã nung nấu trong tôi ý chí quyết tâm vào bộ đội để diệt giặc Pháp, trả thù cho nhân dân, góp phần bảo vệ đất nước. Tháng 6-1948, tôi được nhập ngũ, đổi tên là Nguyễn Đức Huy và liên tục tham gia chiến đấu, công tác, phục vụ trong Quân đội cho đến khi nghỉ hưu.
Đại tá ĐẶNG VIỆT THỦY (Ghi theo lời kể của Thiếu tướng, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Đức Huy, nguyên quyền Tư lệnh Quân khu 2)