Ông Phan Đăng Tài sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước tại thôn Đông, xã Tràng Thành (nay là xã Yên Thành), tỉnh Nghệ An. Ông là em ruột của nhà cách mạng Phan Đăng Lưu. Từ nhỏ, Phan Đăng Tài đã sớm bộc lộ tư chất thông minh. Sau khi học xong bậc tiểu học ở trường huyện, ông thi đỗ vào Trường Quốc học Vinh. Trong thời gian đi học, Phan Đăng Tài đã được tiếp xúc với sách, báo tiến bộ do anh trai Phan Đăng Lưu cung cấp.

Năm 1928, sau khi tốt nghiệp bậc thành chung, Phan Đăng Tài về quê và tham gia Chi bộ Đảng Tân Việt do anh trai Phan Đăng Lưu tổ chức. Với ý chí học tập cao, Phan Đăng Tài cùng anh ruột Phan Đăng Triều bàn chuyện ra Hà Nội học tiếp, nhưng Phan Đăng Lưu khuyên hai em ra làm việc để che mắt địch, làm cơ sở cho Đảng. Sau đó, Phan Đăng Tài vào làm ở Tòa công sứ Thanh Hóa.

leftcenterrightdel
Ông Phan Đăng Tài (1909-1991). Ảnh tư liệu

Giữa năm 1929, Đảng Tân Việt bị khủng bố, hầu hết đảng viên ở Thanh Hóa bị bắt, trong đó có Phan Đăng Tài. Nhưng vì không có chứng cứ nên ông được thả và bị buộc rời khỏi nơi cư trú, chuyển đến An Khê (Gia Lai). Năm 1932, Phan Đăng Tài lại bị chuyển đến làm việc ở Tòa công sứ Pleiku. Thời gian ở Tây Nguyên, ông tìm cách giúp đỡ các cựu tù chính trị Buôn Ma Thuột những vật phẩm thiết yếu như thuốc men, tiền bạc và giấy tờ quan trọng để họ thuận lợi hơn trong quá trình sinh sống và hoạt động trở lại.

Nhờ sự giúp đỡ của những người Pháp tiến bộ, năm 1934, Phan Đăng Tài ra làm việc ở Tòa công sứ của Pháp tại Hà Tĩnh. Tại đây, ông thường được các chánh, phó sứ người Pháp nhờ dạy tiếng Việt và văn hóa phương Đông. Đồng thời, họ cũng giúp Phan Đăng Tài nhiều tài liệu, từ sách tiếng Pháp, tiếng Anh đến các sách, báo về triết học, luật học, văn học, khoa học để ông nâng cao trình độ về mọi mặt...

Thời gian làm việc ở Tòa công sứ Hà Tĩnh, Phan Đăng Tài tham gia Liên hội Hướng đạo Đông Dương tại Hà Tĩnh và trở thành thành viên tích cực. Ông từng giúp người dân Thạch Hà thắng kiện khi bị cường hào chiếm đoạt hàng trăm mẫu ruộng và hỗ trợ người dân Nghi Xuân khi bị cướp đất. Chứng kiến cảnh đồng bào bị chết đói năm 1945, Phan Đăng Tài đã cùng anh em trong Liên hội Hướng đạo Đông Dương đi xin tiền, gạo về phân phát cho bà con xung quanh thị xã Hà Tĩnh. Ông còn soạn thảo các điện văn bằng tiếng Pháp cho Tuần phủ Hà Tĩnh Nguyễn Khoa Nghi vào Huế để xin cứu đói khẩn cấp. Nhờ vậy mà chỉ sau mấy ngày, 200 tấn gạo đã được chuyển đến Hà Tĩnh kịp thời. Hội Cứu tế Hà Tĩnh do Phan Đăng Tài làm Phó hội trưởng đã làm được nhiều việc, gây được tiếng vang trong cộng đồng người Hà Tĩnh. Ông còn viết lời kêu gọi cứu trợ gửi cho báo chí ở Hà Nội, Sài Gòn nhằm làm giảm hậu quả của nạn đói hoành hành ở Hà Tĩnh.

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng lâm thời ở Hà Tĩnh được thành lập, Phan Đăng Tài được giao nhiều chức vụ quan trọng trong bộ máy chính quyền của tỉnh Hà Tĩnh, được cử làm Phó chủ tịch Ủy ban Cách mạng lâm thời tỉnh Hà Tĩnh.

Cuối năm 1949, Phan Đăng Tài làm Chánh văn phòng Liên khu 4. Ông đã đề xuất sáng kiến, đồng thời trực tiếp mở lớp học văn hóa và tốc ký bằng chữ quốc ngữ. Từ lớp học này mà ông Lưu Văn Xân, học viên của lớp, cũng là người Phan Đăng Tài liên lạc để xây dựng cơ sở Việt Minh, từng làm quan tri huyện Yên Thành, được tuyển chọn ra Việt Bắc làm việc và làm thư ký cho nhiều cuộc họp quan trọng do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì. Năm 1952, ông Phan Đăng Tài ra Việt Bắc, công tác ở Bộ Nội vụ. Đến năm 1957, ông chuyển công tác sang Báo Nhân Dân, giữ chức Trưởng phòng Tư liệu cho đến khi nghỉ hưu năm 1975.

PHAN XUÂN HẬU