Năm 1974, trên chiến trường Quảng Đà, ta chuẩn bị mở chiến dịch lớn đánh Chi khu quân sự và quận lỵ Thượng Đức, một căn cứ lớn của quân ngụy Sài Gòn. Cầu Giao Thủy bắc qua sông Thu Bồn là con đường huyết mạch trên địa bàn. Nếu ta đánh sập cầu Giao Thủy sẽ ngăn sự chi viện của địch, tạo điều kiện cho các lực lượng Quân giải phóng tiêu diệt địch. Vì vậy, Đội 170 chúng tôi nhiều lần được cấp trên giao nhiệm vụ giải quyết cây cầu này.
Cầu Giao Thủy dài 1,6km, được bố trí nhiều trụ kiên cố, mặt cầu rộng khoảng 8m, trụ cầu có đèn pha, xung quanh trụ có dây thép gai quấn quanh để bảo vệ. Lính gác thường xuyên bắn xuống nước khi có vật trôi trên sông, thỉnh thoảng thì ném lựu đạn xuống trụ cầu.
Quân địch bảo vệ cầu là một đại đội lính địa phương quân, ở phía Bắc cầu có một chòi cũ cao 50m làm đài quan sát từ xa, dưới cầu có công sự làm bằng bao cát kiên cố đủ cho lực lượng bảo vệ cầu trú ẩn. Phía Nam cầu cũng có công sự làm nơi ăn ở của lực lượng bảo vệ cầu... Ở phía Nam, cách cầu 200m có trận địa pháo 105mm của địch dùng để khống chế và bắn phá các tuyến đường vào vùng giải phóng (gọi là trận địa pháo kiểm lâm). Trên cầu có đèn pha rọi xuống nước để bảo vệ.
Ngày 23-3-1974, đồng chí Đinh Văn Rơi, Chính trị viên Đội giao nhiệm vụ cho chúng tôi, gồm Tổ trưởng Phạm Tùng Bách và tôi (Trần Sông Thao, tổ viên) bằng mọi cách phải đánh sập cầu Giao Thủy. Sau khi nhận nhiệm vụ, tôi và đồng chí Bách lên đường theo giao liên dẫn đường. Tối 24-3-1974, chúng tôi đã tới địa bàn Lộc Thanh, vùng B Đại Lộc và được bố trí ở lại nhà cơ sở cách mạng, có hầm bí mật. Đến tối hôm sau, tiếp tục làm nhiệm vụ trinh sát bám mục tiêu tiếp cận nắm quy luật bố phòng canh gác trên cầu của địch.
Theo hiệp đồng, sau khi đã có kết quả trinh sát, bộ phận giao liên, du kích địa phương cùng 2 đồng chí trong đơn vị liên hệ với quân giới mặt trận nhận thuốc nổ và kíp nổ. Đến ngày 27-3, toàn bộ khí tài, thuốc nổ và phụ liệu đã được tập kết về cơ sở ở Lộc Phước, cách cầu khoảng 1,5km.
Đêm 27-3, toàn đội hình bí mật tập kết tại đường tắt ra bờ sông. Khoảng 22 giờ, chúng tôi nhận đủ thuốc nổ, khí tài, kíp nổ hẹn giờ... xong cho các đồng chí phục vụ cùng về với du kích dẫn đường. Còn lại tôi và đồng chí Bách tiếp tục lắp ráp khối thuốc nổ C4 100kg. Cố định phao vào khối thuốc nổ, cài thêm nhiều kíp số 8 để kích nổ và 2 kíp hẹn giờ. Đến 23 giờ, chúng tôi đã hoàn thành lắp ráp thuốc nổ rồi ngụy trang cho nhau. Khoảng 23 giờ 30 phút, chúng tôi bơi xuôi theo dòng chảy ra giữa sông Thu Bồn. Đồng chí Bách kéo khối đi trước, tôi ôm khối thuốc nổ giữ cho thăng bằng để khối thuốc không nổi lên mặt nước.
Khi cách cầu khoảng 300m, chúng tôi dừng lại quan sát lần cuối và tính toán dòng chảy để căn thời gian tiếp cận vào cầu. Lúc này khoảng 0 giờ 30 phút ngày 28-3, là khung giờ địch sơ hở trong canh phòng, bảo vệ, chúng thường bắn vu vơ xuống nước và ném lựu đạn xuống sông, sau đó về đổi gác. Chớp thời cơ, chúng tôi thả ống đưa khối thuốc nổ vào trụ cầu ở giữa sông, bí mật cố định khối thuốc nổ vào trụ cầu, xì phao thăng bằng, rút chốt an toàn của kíp hẹn giờ.
Xong xuôi, đồng chí Bách bí mật bơi xuôi theo dòng chảy ra khỏi trụ cầu. Tôi kiểm tra xong cho khối chìm xuống đáy sông theo trụ cầu, rồi bí mật thả ống trôi xuôi theo dòng sông về trị trí đã hiệp đồng. Ở đó, du kích cơ sở của xã Lộc Hưng, huyện Đại Lộc đã chờ sẵn, đón chúng tôi lên bờ vào hầm bí mật.
Khoảng 2 giờ 45 phút ngày 28-3, tiếng nổ lớn khiến nhà dân gần đó đều cảm nhận được sự rung chuyển. Cầu Giao Thủy bị đánh sập, 5 tên lính gác cầu thương vong. Cầu Giao Thủy sập đã cắt đứt con đường chi viện của địch cho chiến trường Thượng Đức đang bị Quân giải phóng đánh mạnh, cũng tạo điều kiện cho Tiểu đoàn 3 bộ binh của Mặt trận 44-Quảng Đà đang đánh chặn Sư đoàn 3 ngụy ở vùng B Đại Lộc.
Với thành tích xuất sắc ở trận đánh này, đồng chí Bách và tôi sau đó được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì.
TRẦN SÔNG THAO