Anh Phạm Văn Bàn sinh năm 1947, hơn bọn tôi 5 tuổi. Quê anh ở thị trấn Trới, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh). Anh ở đơn vị tôi từ năm 1968. Cánh lính sinh viên tụi tôi nhìn các anh hồi Mậu Thân như những người anh hùng trong phim Liên Xô. Anh Bàn cũng coi chúng tôi như những đứa em nhỏ. Anh bảo: “Chúng mày bằng thằng em tao ở nhà, nhưng nhà tao nghèo, nó chả được học hành như chúng mày”. Khi hành quân, anh mang hộ cả cuốc, xẻng. Có lần anh mang hộ Sỹ một bọc toàn sách vở, thư từ. Dừng chân ở đâu là anh ca cóng đến tài. Cái ăng-gô của anh đen nhẻm. Bọn tôi khoái, vừa húp bát canh chua của anh nấu vừa gọi “cụ Bàn”. “Cụ Bàn” hay “tàng trữ” thuốc rê của đồng bào. “Cụ Bàn” lúc nào cũng có mì chính. “Cụ Bàn” có gói đường bé bằng bao diêm, đứa nào ốm, “cụ” vê cho một cục uống cho lại sức. Đêm trú quân anh kể, nhà anh ở thị trấn Trới. Khiếp tên gì mà xấu thế. Anh lườm. Tên thì có gì mà xấu, chỉ có người tốt, người xấu thôi.
Hết chiến dịch này đến chiến dịch khác. Anh bảo chỉ mong sau này về, mặc quần áo thật oách đi hỏi vợ để khỏi bị chê Bàn quần đùi nữa. Anh sẽ đi làm kiếm tiền để chữa mắt lòa cho mẹ anh.
Tôi nghĩ chắc ngày ở nhà anh hay mặc quần đùi, nhà nghèo quá nên anh hiếm khi được mặc quần dài đi học. Nhưng im không hỏi.
    |
 |
| Tác giả Nguyễn Trọng Luân (bên trái) và đồng đội Đinh Ngọc Sỹ trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. |
Một hôm, nhân lúc anh đi vắng, Sỹ lấy cái bi-đông Trung Quốc của anh khắc mấy chữ “Bàn quần đùi”. Khi về, anh thấy vậy buồn lắm. Chiều anh ra suối lấy cát đánh sạch bong cái bi-đông rồi ngồi thẫn thờ nhìn cái thác nước lẫn những chiếc lá trôi vùn vụt. Hôm sau, thằng Sỹ lấy mũi dao chữa lại thành “Bàn quân đội”, thế là anh tươi hẳn.
Mùa xuân năm 1975. Chiến trận cuốn đi như lũ. Từ Buôn Hồ, Buôn Ma Thuột, chúng tôi đánh lên Cheo Reo rồi tràn ra Tuy Hòa. Sư đoàn 320 của chúng tôi lại ào ào tiến về đánh Củ Chi. Đêm 28-4-1975, chúng tôi đánh vào Tân Phú Trung cách Sài Gòn chưa đầy 25km. Đất cứng quá nên đào hầm từ nửa đêm tới sáng mới được cái hố đến đầu gối. Phía Đồng Dù pháo bắn dữ dội. Gần trưa 29-4-1975, tàn quân địch tháo chạy từ Đồng Dù tràn cả vào Trạm phẫu C24 đông như đàn vịt chạy sang đường. Tất cả y tá, y sĩ đều nổ súng chiến đấu. Anh Bàn và Sỹ ngồi chung hầm. Anh đẩy Sỹ ra phía sau, hai anh em kéo thêm đống rơm kê làm bệ bắn.
Hầm nông quá, người cứ nhấp nha nhấp nhổm. Anh thét: “Sỹ, mày bắn đằng sau, tao bắn phía ngoài đồng”. Cát tút AK văng vào nhau lại rơi vào chân bỏng rẫy. Một quả đạn cối nổ gần, mảnh bay rào rào. Sỹ nhắm mắt lại thì nghe anh nói: “Thôi mờ đời rồi”. Anh ngửa người đè vào Sỹ, ngực áo thấm tí máu bằng hạt ngô. Tiếng gọi mẹ nhỏ như tiếng nấc. Anh Bàn hy sinh ngay lúc ấy trên tay Sỹ. Đặt anh xuống hầm, Sỹ ôm súng bắn lia lịa. Địch chạy dạt ra ngoài đồng. Rồi trận đánh kết thúc. Cả Trung đoàn 64, Sư đoàn 320 chúng tôi thành mũi luồn sâu tiến vào thành phố cùng với Sư đoàn 10.
Sỹ ngẩn ngơ nhìn anh Bàn nằm lại, bộ phận giải quyết tử sĩ của Trung đoàn và Tiểu đoàn 25 vận tải chôn cất rồi chạy theo đơn vị. Trước khi đi, Sỹ mở ba lô của anh lấy ra một cái áo gọi là Mông-tơ-ghi cộc tay màu mận chín. Chắc anh lượm đâu đó trên đường chiến đấu vì vẫn còn vết bẩn. Sỹ nghĩ trong lòng, phải giữ làm kỷ niệm của anh.
    |
 |
| Vợ chồng cựu chiến binh Đinh Ngọc Sỹ và vợ chồng tác giả Nguyễn Trọng Luân (ngoài cùng, bên trái) Tết năm 2025. Ảnh do tác giả cung cấp |
Sau ngày 30-4 một vài tháng, chúng tôi được về đi học. Để lại sau lưng 4 năm đời lính chiến biết bao vui buồn, hào hùng mà cũng đầy nhọc nhằn, gian khổ. Để lại sau lưng mình bao kỷ niệm và những nấm mồ đồng đội nơi núi sâu đồng vắng. Mọi nỗi mất-còn đơn giản như cái ba lô nhẹ tênh của chúng tôi ngày lên xe ra Bắc. Đinh Ngọc Sỹ vào Trường Đại học Quân y (nay là Học viện Quân y) năm thứ tư. Còn tôi vào học tiếp năm thứ tư Trường Đại học Cơ Điện (nay là Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp, Đại học Thái Nguyên).
Chiến tranh như đã xa lắc tự bao giờ. Thay vào nỗi nhớ là những đồ án, là bài vở và cuộc sống nghèo vất vả của sinh viên. Hằng tuần, tôi và Sỹ vẫn về gặp nhau. Lúc ấy, ngồi ôn lại những ngày đã qua mà rưng rưng nhớ rừng, nhớ đồng đội. Hai đứa giở cái áo của anh Bàn mà tưởng như anh lại ngồi đâu đây, tưởng như lúc anh nhìn Sỹ rồi tắt thở trên cánh đồng Tân Phú Trung trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến 30 năm. Anh Bàn ơi, sẽ chẳng bao giờ anh còn được mặc cái áo thật đẹp này đi hỏi vợ nữa. Các cô gái thị trấn Trới sẽ chỉ mãi nhớ anh là anh “Bàn quần đùi” thôi.
Một chiều mưa ở khu nhà cấp bốn của sinh viên Trường Đại học Quân y trong Hà Đông, tôi và Sỹ ngồi thật lâu bên tấm áo ấy. Thế mà cả hai đứa tôi đều mụ mị, đều sai lầm để phải ân hận tới bây giờ.
Năm 1978, tôi làm đồ án tốt nghiệp đại học. Hồi ấy, tôi được 33 đồng phụ cấp bộ đội xuất ngũ. Mọi thứ chỉ vừa đủ ăn. Còn học, còn giấy vẽ, tài liệu... tuốt tuột không trông được vào đâu. Tôi đã bán cả tăng, cả võng bộ đội, thậm chí cả đôi dép nhựa Tiền Phong là thứ đồ thời trang ngày ấy của sinh viên. Sắp đến ngày bảo vệ đồ án, giấy bút nợ nần tùm lum. Sỹ thương tôi quá. Một chiều nó gọi tôi vào Hà Đông, ngắc ngứ mãi rồi nó bảo: “Hay mày bán cái áo của anh Bàn đi mà lo thi cử, chắc anh ấy cũng thông cảm và thương cho tụi mình thôi”. Cái quyết định này đúng hay sai chả biết. Tôi cầm cái áo ra mà lòng nặng trĩu. Sỹ đứng nhìn bịn rịn như chia tay một người bạn đi xa. Tôi đạp xe theo con đường 70 qua Văn Điển lồi lõm ổ gà. Chiếc xe nặng như muốn dừng lại. Tôi đi giữa cánh đồng ngoại ô mà cứ như mình đang hành quân năm nào, đầu óc lơ mơ, người như nửa chìm nửa nổi trên mặt nước hồ. Tôi bán cái áo ấy cho một bác thợ may trên đường. Cái hiệu may ấy ngay đầu con đường đi xuống nhà thờ làng Tám. Bây giờ, nơi đó sừng sững một cái khách sạn mang tên một loài hoa ngay mặt đường Giải Phóng rẽ vào làng Tám. Người thợ may trả cho tôi những 60 đồng, gần bằng một tháng lương kỹ sư ngày đó. Thế là tôi trang trải đủ nợ nần và có tiền lo xong kỳ thi tốt nghiệp đại học.
Tôi ra trường, đi làm, lấy vợ, đẻ con, lang thang ở nhờ ở thuê. Rồi con lớn, tôi có nhà cửa, thoáng cái đã hơn 20 năm. Quãng thời gian đó, ít khi nhớ lại chuyện bán áo của anh Bàn. Cứ như là việc đương nhiên phải thế. Cái lý của người sống cứ vin vào sự bận rộn đời người để quên đi người đã khuất. Nhưng sự thật thì không thể như thế mãi. Đến năm 2002, khi tôi đã đàng hoàng nhà cao cửa rộng thì nỗi dằn vặt bỗng trở về. Đêm nào tôi cũng nằm mơ thấy anh Bàn, thấy cái áo màu mận chín tôi đã bán cho ông thợ may từ 20 năm trước. Có đêm rõ ràng tôi nghe thấy anh Bàn hỏi: “Mày làm kỹ sư lương có khá không? Liệu liệu đừng để con cái hư hỏng nhé”. Hôm sau, tôi kể lại với Sỹ. Sỹ khuyên tôi đừng nghĩ ngợi quá mà trầm cảm. Nhưng chính nó cũng thở dài buồn rượi. Suốt những ngày sau đó, tôi vẫn cứ mơ về cái áo. Cứ thấy anh Bàn hiện ra khắc khổ mà bao dung. Nhiều năm nay, chúng tôi bảo nhau tìm mua một cái áo giống kiểu như kỷ niệm vọng. Thế mà khó quá. Bây giờ tìm đâu ra mẫu áo của 40 năm về trước.
Một sáng tháng 10-2003, vợ chồng tôi vào Củ Chi. Cánh đồng Tân Phú Trung ngày nào giờ vẫn là những ruộng dưa, những rặng trâm bầu ngút ngát. Cái bụi tre chỗ anh Bàn trúng đạn nay già cọc cằn, nham nhở đứng đó. Mộ đồng đội tôi ngày ấy đã quy tập về An Nhơn Tây, gần đền Bến Dược. Chúng tôi lại lên An Nhơn Tây. Ngót 10.000 ngôi mộ lặng lẽ nằm bên bờ sông Sài Gòn. May mắn cho vợ chồng tôi nhờ các anh chị quản trang dẫn lối, chúng tôi tìm được khu mộ liệt sĩ của Sư đoàn 320.
Thật không thể nói hết mừng vui khi chúng tôi tìm thấy mộ anh Bàn bên bao nhiêu đồng đội cũ. Những cái tên ghi trên mộ chí đều thân thuộc mà gần 30 năm sau mới gọi nên lời. Trưa nắng. Ve kêu râm ran trên cây. Gió ngàn ngạt thổi. Sông Sài Gòn đầy lục bình, xanh cả mặt sông, giống hệt như ngày cuối tháng 4-1975 chúng tôi ém quân nơi này. Tôi đặt lên mộ anh gói thuốc lào, bông hoa cúc vàng mua dưới chợ Tân Quy, cả bộ quần áo đồ hàng mã mang từ Hà Nội. Tiếng ve vẫn rối bời như một thuở đánh nhau mùa khô trên Tây Nguyên, như thấy anh Bàn ca cóng cặm cụi, thương mấy thằng em chúng tôi. Nghẹn ngào kể cho anh nghe rằng, nhờ cái áo của anh, tôi đã tốt nghiệp đại học, trưởng thành, vợ con đề huề. Và rằng, chúng tôi còn nợ đời lắm lắm...
Cuối năm 2005, cả tôi và Đinh Ngọc Sỹ lại về Củ Chi. Chúng tôi mắc võng nằm ngủ đêm ở An Nhơn Tây, bên vạt rừng ở bờ sông Sài Gòn nơi chúng tôi đã nằm hai ngày chờ giờ xuất kích đánh vào Sài Gòn. Nằm trong hương đồng Củ Chi, đêm tanh ngái mùi bùn và cỏ, lại nghe tiếng bìm bịp kêu, tưởng như có anh Bàn và đồng đội đang ngồi bên rì rầm trò chuyện, lập lòe đốm thuốc lá chia nhau. Lại chợt nghe thấy tiếng gọi mẹ của anh lúc anh ra đi. Chúng tôi lặng lẽ soi mình về mấy mươi năm trước. Trong đầu chúng tôi hiện lên một đội hình có anh Bàn, cả cái áo kỷ vật của anh, vẫn hình dung rõ trên cái áo đó có đặc điểm gì, dấu vết gì với nỗi niềm day dứt.
Anh Bàn ơi, tha lỗi cho chúng em!
Nhà văn NGUYỄN TRỌNG LUÂN