Những ngày cận Tết ở đảo không náo nhiệt với những lo toan như ở đất liền mà chỉ có những hồi hộp đợi chờ tàu từ đất liền ra. Việc đưa hàng Tết ra đảo trong mùa biển động vô cùng khó khăn, gian nan, vất vả. Các tàu chở hàng của ta trọng tải chỉ tầm 400 tấn, rất nhỏ bé trước những con sóng lừng của mùa biển động cuối năm, nhưng vẫn đè sóng ra khơi, bất chấp hiểm nguy để hoàn thành tốt nhiệm vụ chở hàng Tết ra các đảo.

Ngày 20-1-1989 (ngày 13 tháng Chạp năm Mậu Thìn), sau bao ngày háo hức mong chờ, tàu HQ 602 cũng tới đảo. Tàu chưa kịp buông neo, anh em đã nhanh chóng chèo xuồng nhôm ra đón. Ai cũng háo hức, mong được nhận thư của gia đình gửi ra cùng với những món quà Tết mà đất liền dành cho những người lính đảo. 5 người được phân công chèo xuồng ra tàu, mang theo cuộn dây dù to đùng, một đầu cột vào nhà lô cốt (còn gọi là nhà lâu bền, thiết kế như những chiếc lô cốt với 6 cạnh). Sau khi tới tàu, anh em cột đầu còn lại vào thanh chắn trên boong để dễ bề lần theo sợi dây ra vào đảo cho đỡ tốn công sức.

leftcenterrightdel
Tác giả, cựu chiến binh Nguyễn Duy Dương (giữa) cùng đồng đội. Ảnh: HẢI AN 

Chúng tôi được cấp một con heo nặng khoảng 80kg (theo báo cáo) để có thịt tươi ăn Tết, nhưng nó gầy đét bởi bao ngày lênh đênh trên biển. Ngoài heo còn có kẹo, thuốc lá và mấy chai rượu để có không khí Tết. Những lá thư từ quê mẹ gửi ra, nhìn ngày tháng trên dấu mộc đen mà bâng khuâng. Phải mất gần 8 tháng, thư mới đến tay người nhận. Nhưng biết làm sao khi mà đất nước còn nghèo, trang thiết bị cho bộ đội còn nhiều thiếu thốn...

Tàu HQ 602 chỉ buông neo cạnh đảo chừng nửa ngày rồi lại tiếp tục hải trình đi lên cụm giữa và cụm Bắc của đảo Đá Lớn. Lưu luyến chia tay các thủy thủ trên tàu mà trong lòng mỗi chúng tôi đều bâng khuâng và da diết buồn, bởi biết rằng phải 5, 6 tháng sau mới được gặp lại những người đồng đội theo tàu từ đất liền ra với đảo.

Nhưng nỗi buồn cũng thoáng qua mau, bởi còn bao trách nhiệm đang đè nặng đôi vai của những người giữ đảo như chúng tôi. Song song với việc huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, ngày 15 tháng Chạp, chúng tôi bắt đầu đem những cây san hô trúc đã được chặt về từ tháng 10, ngâm cho bong hết phần vỏ, để lộ ra phần san hô với những đốt trắng dài như đốt trúc xen kẽ những đốt đen bằng sừng thật bắt mắt. Vài anh em khéo tay được giao nhiệm vụ cắt những mảnh giấy vàng, bạc từ vỏ bao thuốc lá các loại thành hoa mai vàng dính lên cành san hô. Thế là có cây mai vàng đón xuân.

Nấu bánh chưng thì rất khó bởi không có lá dong, chúng tôi lấy bao xi măng đã rửa sạch, lấy đinh đục những lỗ nhỏ rồi cắt thành miếng vừa với khuôn tự tạo. Rồi cũng ngâm gạo nếp để chờ gói bánh. Đêm 22 tháng Chạp, anh em mổ lợn. Con heo từ đất liền mang ra sau gần chục ngày được cậu Tú quản lý đảo chăm sóc đã tăng thêm mấy cân. Khổ nỗi, từ chỉ huy đến chiến sĩ, không ai biết nghề “ba toa” nên việc làm thịt con heo rất lóng ngóng. Nước sôi để cạo lông heo được lấy từ nước biển. Làm thịt con heo xong thì đã hơn 5 giờ ngày 23 tháng Chạp. Chúng tôi đánh tiết canh, luộc lòng, cúng “ông Công, ông Táo” theo phong tục truyền thống. Sau đó, cả đảo phía Nam được bữa ăn tươi. Số thịt còn lại, chúng tôi ướp muối để dành cho mấy ngày Tết.

Ngày 29 Tết, anh em chúng tôi quây quần gói bánh chưng. Mâm cỗ tất niên có đủ các món giò, chả, thịt kho, luộc... Chúng tôi cũng lập ban thờ đón xuân mới, có chè, thuốc lá, hộp sữa đặc, mấy phong lương khô, thịt hộp và bánh chưng tự gói. Anh em trên đảo thao thức chờ phút Giao thừa. Khi đồng hồ vừa chạm mốc 12 giờ, chúng tôi cùng quây quần bên chiếc máy thông tin, nghe lời chúc Tết của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công qua điện đài từ đất liền tiếp sóng Đài Tiếng nói Việt Nam... 

NGUYỄN DUY DƯƠNG