Sinh ra trong gia đình truyền thống cách mạng ở xã Điện Ngọc, huyện Điện Bàn (nay là phường Điện Ngọc, thị xã Điện Bàn), tỉnh Quảng Nam, được cha mẹ truyền cho ngọn lửa yêu nước, các anh trai của Huỳnh Thị Kiển lần lượt lên đường tham gia kháng chiến. 12 tuổi, cô bé Kiển tình nguyện làm giao liên tại địa phương. Năm 1965, cô gia nhập đội du kích xã, bao phen cùng đồng đội chiến đấu, đẩy lùi những trận càn ác liệt của địch.

Giữa năm 1967, trong một trận càn, cô Kiển bị địch bắn vào chân và được đồng đội cõng rút về tuyến sau. Thấy tình thế ngày càng nguy cấp, địch đã tấn công sát một bên, cô nhất định ở lại cản địch để anh em rút nhanh, bảo toàn lực lượng. Trong lúc đồng đội còn chần chừ, cô cố vùng vẫy lăn mạnh xuống đất, quyết đương đầu với kẻ thù. Sau đó, cô bị địch bắt đưa về Nhà tù Hội An, dùng nhiều cực hình tra khảo hòng bắt cô khai báo các hầm bí mật, nơi cất giấu tài liệu. Mặc cho địch đánh đập, tra điện đến chết đi sống lại, cô vẫn không hé răng. Chúng đã thực hiện một thủ đoạn tàn bạo đó là dùng dao chặt chân cô hai lần hòng khai thác tin tức. Khi không thu được gì và thấy cô lịm đi, chúng đinh ninh là cô đã chết nên đưa cô vào nhà xác ở Bệnh viện Hội An. Tại đây, cô được đồng đội cứu thoát, đưa về chiến khu Quảng Nam, rồi chuyển ra miền Bắc chữa trị vết thương.

Kể về lần đầu được gặp Bác Hồ, cô Kiển cho biết, ngày 2-9-1968, cô cùng đoàn anh hùng dũng sĩ miền Nam ra thăm Bác. Cô bộc bạch: “Lúc ở trong tù, nhiều lần bị địch tra tấn chết đi sống lại, nhưng cứ nghĩ đến cách mạng, nghĩ đến Bác Hồ, tôi lại cắn răng chịu đựng. Lòng tôi chỉ thầm ước được gặp Bác một lần. Không ngờ mơ ước ấy đã thành sự thật. Lần đó, Bác Hồ tặng tôi gói kẹo, một bộ quần áo, hai quyển sách: “Người tốt, việc tốt” và “Hậu phương thi đua với tiền phương”.

leftcenterrightdel

 Các thế hệ học trò đến thăm cô giáo Huỳnh Thị Kiển. 

Lần thứ hai nữ thương binh Huỳnh Thị Kiển được gặp Bác đúng vào ngày thành lập Đảng 3-2-1969. Theo lời cô kể, thời điểm đó, khi cô đang nằm điều trị tại Bệnh viện Việt Xô thì có người gọi chuẩn bị đi gặp Bác Hồ. Nhìn Bác giản dị trong bộ đồ ka ki cũ, sờn vai, chống gậy bước xuống từng bậc thang, cô không nén được xúc động, đánh rơi cả chiếc nạng gỗ, sà vào lòng Bác, nấc nghẹn vì xúc động và sung sướng. “Lần gặp thứ hai, Bác gọi tôi đến bên, xoa đầu và hỏi thăm sức khỏe, hỏi thăm đồng bào, đồng chí trong quê. Nước mắt trào ra, tôi xúc động không nói nên lời. Chú Vũ Kỳ, thư ký riêng của Bác và các chú bảo vệ dìu tôi ngồi vào ghế. Bác hỏi: “Sao gặp Bác cháu lại khóc?”. Cố nuốt nước mắt, tôi trả lời: “Thưa Bác, cháu có ngờ đâu lại được gặp Bác như thế này”. Hôm ấy, tôi được dùng cơm với Bác... Nhìn tôi ăn hết chén cơm ngon lành, Bác cười thật tươi, hỏi tiếp: “Sau này vết thương lành, cháu thích học nghề gì ?”. Tôi đáp: “Sau này học xong văn hóa thì cháu thi vào đại học sư phạm. Ở miền Nam chiến tranh ác liệt, bom đạn tơi bời, trẻ em không được đến trường, cháu muốn được dạy cho các em thơ biết chữ, biết yêu quê hương, đất nước...”, cô Kiển xúc động kể lại.

Lời hứa với Bác luôn là động lực lớn lao để cô phấn đấu, vươn lên trong những lúc khó khăn nhất. Cô tâm sự: “Sau khi trình bày tâm tư, nguyện vọng với Bác là muốn được đi dạy học, tôi rất lo bởi hiện tại tôi đã là thương binh, trình độ văn hóa mới hết lớp 5. Để thực hiện lời hứa với Bác, trong những năm ở miền Bắc, vừa điều trị vết thương, tôi vừa học văn hóa, làm công tác tuyên truyền cho cuộc chiến đấu ở miền Nam. Năm 1971, tôi lập gia đình cùng anh bộ đội đặc công cũng là thương binh hạng 3/4 và sau khi nước nhà thống nhất, tôi theo chồng vào miền Nam sinh sống”.

Bốn năm học đại học cũng không kém phần khó khăn, gian khổ, cô phải vừa nuôi con vừa chống nạng đi học. Năm 1980, cô Kiển ra trường và về dạy học tại Trường THCS An Hòa 2, TP Cần Thơ. “24 năm đứng trên bục giảng, tôi luôn nguyện làm một chiến sĩ thầm lặng với sự nghiệp “trồng người”. Tôi lấy lời Bác dạy trong lá thư cuối cùng Người gửi cho ngành giáo dục năm học 1968-1969 để làm kim chỉ nam, phấn đấu: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt”, cô Kiển tâm sự.

Từ sự tận tụy dìu dắt của cô giáo thương binh, bao thế hệ học sinh đã trưởng thành. Các con cô cũng đều thành đạt và có vị trí nhất định trong xã hội. Giờ đây, mái tóc đã pha sương nhưng trong lòng người nữ thương binh trung kiên ấy vẫn còn bồi hồi, xúc động mỗi khi nhắc đến những kỷ niệm về Bác kính yêu.

Bài và ảnh: THÚY AN