Ký ức không thể nào quên
Chúng tôi gặp má Mười tại Mái ấm Thiện Duyên, xã Phú Hòa Đông, TP Hồ Chí Minh, nơi đang cưu mang 125 mảnh đời kém may mắn. Trong những năm kháng chiến, ngôi nhà này từng được gia đình má Mười sử dụng làm điểm giao liên, nuôi giấu và giúp đỡ cán bộ cách mạng. Nhớ lại thời niên thiếu, má kể, má được đưa vào căn cứ sống cùng cán bộ, chiến sĩ khi mới 14 tuổi. Những năm tháng trong rừng cực khổ đủ bề, liên tục di chuyển để tránh địch càn, nhiều lúc “sống dưới hầm nhiều hơn trên mặt đất”. Trong hoàn cảnh ấy, cô gái nhỏ luôn được bộ đội thương yêu, che chở, dạy bảo từng việc, để rồi tình cảm dành cho cách mạng cứ lớn lên tự nhiên.
Tên thật của má Mười là Trần Thị Quế, còn tên Trần Thị Cẩm Giang lại ra đời trong những năm tháng hoạt động bí mật. Má kể: Khi cần giấy tờ để vào nội thành Sài Gòn hoạt động, má cùng một đồng đội phải lấy tên giả, người tên Bắc, người tên Giang, lấy từ câu thơ của Tố Hữu: “Em là con gái Bắc Giang/ Rét thì mặc rét, nước làng em lo”. Năm 20 tuổi, má là Bí thư Đoàn xã Phú Hòa Đông, đồng thời tham gia du kích, chiến đấu cùng K17-đơn vị thuộc LLVT Sài Gòn-Gia Định. Nhiệm vụ của má là làm giao liên, chuyển tài liệu bí mật từ căn cứ Củ Chi vào nội thành Sài Gòn. Tuyến đường dẫn từ vùng căn cứ vào thành phố là những đồn bốt, trạm kiểm soát và sự theo dõi gắt gao của địch.
Thông thuộc địa bàn, nhanh nhẹn, gan dạ và có khả năng ứng biến trước những tình huống bất ngờ, má Mười dần được tổ chức tin tưởng giao thực hiện những chuyến chuyển tài liệu quan trọng. Sau thời gian hoạt động ở Củ Chi, má được điều vào nội thành Sài Gòn, tham gia công tác Hoa vận, chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Dưới vỏ bọc người giúp việc trong một gia đình người Hoa có người làm việc cho ngụy quyền Sài Gòn, má cùng đồng đội bí mật gây dựng cơ sở, tìm địa điểm cất giấu vũ khí, đạn dược, chuyển tài liệu và chỉ thị của cấp trên đến các lực lượng chuẩn bị chiến đấu trong nội thành. Khi cuộc tiến công nổ ra, người nữ giao liên cũng trực tiếp tham gia chiến đấu.
Gần 60 năm đã trôi qua, nhưng mỗi lần nhắc đến Tết Mậu Thân 1968, giọng má Mười vẫn chùng xuống, đôi mắt hằn dấu thời gian chợt đỏ hoe. Má nhớ về những gương mặt đồng đội đã không thể trở về; có những người mới hôm trước còn cùng ăn, cùng ở, cùng nhận nhiệm vụ, vậy mà chỉ sau một trận đánh đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng đất. Vì vậy, khi biết hiện nay các lực lượng đang đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, má Mười rất xúc động và thường xuyên dõi theo tin tức. “Chiến tranh qua nhiều năm mà các chiến sĩ vẫn chưa được về nhà, nghĩ đến đó má đau lắm. Bây giờ nghe tin tìm được nhiều bộ hài cốt liệt sĩ, rồi từng bước xác định danh tính, trong lòng má cũng nguôi ngoai nỗi đau phần nào”, má Mười nói.
Trong rất nhiều chuyến chuyển tài liệu giữa căn cứ và nội thành, chuyến đi vào tháng 4-1973 trở thành một dấu mốc má Mười không thể nào quên. Theo lời má kể, sau một lần trở về căn cứ Củ Chi dự họp, má nhận nhiệm vụ đưa tài liệu quan trọng vào Sài Gòn. Thông thường, lực lượng giao liên sẽ lựa chọn tuyến đường vòng qua địa bàn Bình Dương, xuống Thủ Đức rồi mới đi ngược vào trung tâm thành phố nhằm hạn chế nguy cơ bị phát hiện. Nhưng do yêu cầu nhiệm vụ cấp bách, lần ấy má quyết định chọn con đường ngắn hơn là qua Hóc Môn, tuyến đường có nhiều trạm kiểm soát của địch. Ngày 18-4-1973, trên đường thực hiện nhiệm vụ, má Mười cùng 4 đồng chí bị địch phát hiện, bắt giữ do có người chỉ điểm. Sau khi thu giữ tài liệu và súng ngắn, chúng đưa má đến một nơi giam giữ gần cầu Băng Ky, rồi chuyển về Tổng nha Cảnh sát Đô thành Sài Gòn.
Tại đây, má đã trải qua nhiều cuộc thẩm vấn và những trận đòn tra tấn dã man của kẻ thù. Má kể rằng dù cơ thể đau đớn, má vẫn tìm cách đấu lý với những người bắt giữ mình, viện dẫn các điều khoản của Hiệp định Paris về những quyền tự do, dân chủ, đồng thời tự nhủ dù thế nào cũng không được nói những điều làm tổn hại đến cơ sở cách mạng và đồng đội. Má bị giam giữ cho đến những ngày cuối tháng 4-1975. Khoảng 10 ngày trước khi Sài Gòn được giải phóng, má bị đưa ra tòa án quân sự, nhưng khi ấy ngụy quyền Sài Gòn đang đứng trước sự sụp đổ, tình hình thành phố ngày càng hỗn loạn nên bản án chưa kịp tuyên.
Đến ngày 30-4-1975, được tự do, bước ra khỏi nơi giam giữ với cơ thể đầy thương tích sau thời gian dài bị tra tấn, nhưng điều má mong mỏi nhất khi ấy chỉ là được trở về nhà gặp mẹ. Trong thời gian má bị bắt, địch tung tin má đã chết. Người mẹ ở Củ Chi hay tin con gái không còn nữa, trong khi trước đó một người con khác của bà cũng đã hy sinh, khiến nỗi đau càng chồng chất. Vì thế, cuộc gặp lại giữa hai mẹ con trong ngày đất nước thống nhất trở thành một ký ức đặc biệt mà nhiều năm sau, mỗi khi nhắc lại má Mười vẫn không giấu được xúc động.
Ân tình với quê hương, đồng đội
Trong một lần trở về thăm Củ Chi, má đau lòng khi biết nhiều đồng đội, gia đình từng nuôi giấu cán bộ cách mạng năm xưa đã qua đời, để lại những người con khuyết tật, bại liệt, chịu hậu quả nặng nề của chất độc da cam/dioxin mà không có người thân chăm sóc. “Ngày còn kháng chiến, dù hoàn cảnh chẳng khá giả gì, cha mẹ tụi nhỏ vẫn cưu mang, nuôi giấu mình. Bây giờ họ mất rồi, để mấy đứa nhỏ bơ vơ, má nhìn không đành lòng”, má Mười nhớ lại. Mang trong lòng nỗi trăn trở phải làm một điều gì đó để báo đáp, má đưa 5 người con của đồng đội về nhà nuôi dưỡng cùng 2 người con ruột. Một mình gồng gánh, má đã làm đủ nghề, từ bán vé số, bán hủ tiếu, bánh tráng đến mở cửa hàng tạp hóa, chắt chiu từng đồng để lo bữa ăn, thuốc men và cuộc sống cho các con.
    |
 |
| Bà Trần Thị Cẩm Giang (má Mười). |
Từ hoàn cảnh ấy, với sự giúp đỡ, đồng hành của chính quyền địa phương, nhà hảo tâm và bà con nhân dân, năm 1988, Mái ấm Thiện Duyên ra đời trên chính mảnh đất từng là cơ sở cách mạng. Khi số người cần được cưu mang ngày một nhiều, những đồng tiền kiếm được không còn đủ trang trải, má Mười quyết định bán căn nhà ở trung tâm TP Hồ Chí Minh để trở về Củ Chi phát triển mái ấm. Từ những căn phòng đơn sơ ban đầu, Thiện Duyên từng bước được mở rộng, bố trí thành các khu vực phù hợp để chăm sóc trẻ bại não, khuyết tật, trẻ sơ sinh và người già neo đơn. Những đứa trẻ bị bỏ rơi được má đặt tên, coi như con trong nhà.
Công việc chăm sóc những người không thể tự phục vụ bản thân đòi hỏi sự kiên trì, tận tụy và tình thương đặc biệt. Từ bữa ăn, giấc ngủ, vệ sinh cá nhân đến thuốc men lúc đau ốm, mọi việc đều cần có người túc trực, chăm nom. Nhiều năm qua, bên cạnh má Mười còn có sự sẻ chia của các nhà hảo tâm, tình nguyện viên cùng chung tay vun đắp Mái ấm Thiện Duyên. Với những em có khả năng học tập, má tạo điều kiện để các em được đến trường, có người học đến đại học; khi trưởng thành, má lại lo dựng vợ, gả chồng, hỗ trợ đất, xây nhà để các con có thể tự lập. Nhiều người từng được cưu mang tại Mái ấm Thiện Duyên sau khi trưởng thành lại trở về phụ giúp má chăm sóc những người đến sau, tiếp nối nghĩa tình dưới mái nhà chung.
Những việc làm bền bỉ suốt nhiều năm của má Mười đã được các cấp, các ngành và xã hội ghi nhận, tôn vinh. Nhưng với má, phần thưởng quý giá nhất là nhìn thấy những đứa con của Mái ấm Thiện Duyên được yêu thương, trưởng thành, có thể tự chăm sóc bản thân và bước đi bằng chính đôi chân mình. Từng được đồng đội, nhân dân chở che trong chiến tranh, khi hòa bình, má lại dành cuộc đời cưu mang những phận người yếu thế. Mái ấm Thiện Duyên vì thế cũng là nơi má tiếp nối nghĩa tình với đồng đội, quê hương.
Bài và ảnh: ANH HIẾU TRÂM