Từ những năm còn ngồi trên ghế nhà trường, tôi đã mơ trở thành người lính cầm bút. Ước mơ ấy theo tôi vào chiến trường. Năm 1970, tôi vượt Trường Sơn vào Nam Bộ. Trong hành trang của người lính trẻ khi ấy có một cuốn sổ nhỏ. Ngày nào tôi cũng ghi nhật ký: Những trận đánh, những người đồng đội, những vùng đất đi qua, những câu chuyện nghe được và cả những suy nghĩ rất riêng của một người lính lần đầu bước vào chiến trường. Có lẽ hơi “ngông” một chút, tôi tự phong cho mình là “phóng viên chiến trường”.

Danh hiệu ấy dĩ nhiên chẳng có giá trị gì về mặt tổ chức, nhưng lại có ý nghĩa đặc biệt đối với tôi. Nó nuôi dưỡng trong tôi thói quen quan sát, ghi chép và khát vọng được kể lại sự thật của chiến tranh bằng con chữ.

leftcenterrightdel
 Đại tá Trần Thế Tuyển (đứng trước) trở lại thăm Sư đoàn 5, Quân khu 7, tháng 11-2025.

Những năm tháng chiến đấu ở Nam Bộ và làm nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia càng khiến tôi gắn bó với nghề báo. Để rồi, năm 1987, khi đang làm Thư ký tòa soạn Báo Quân khu 7-tờ báo kế tục truyền thống Báo Quân giải phóng miền Nam-tôi đứng trước một lựa chọn: Về Báo QĐND hay về Báo Sài Gòn Giải phóng?

Lúc ấy, lãnh đạo Ban đại diện Báo QĐND phía Nam, trong đó có các anh Nguyễn Vũ Linh, Phạm Đình Trọng, nhiều lần đến cơ quan tôi gặp anh Mai Bá Thiện, người phụ trách Báo Quân khu 7 và các thủ trưởng Cục Chính trị Quân khu 7.

Các anh cho rằng Báo QĐND đang cần những phóng viên đáp ứng yêu cầu mới, nhất là theo dõi chiến trường Tây Nam và hoạt động của Quân tình nguyện Việt Nam đang thực hiện nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia. Tôi đã sống, chiến đấu ở miền Nam, từng có thời gian ở Campuchia, am hiểu địa bàn, chiến trường và phần nào hiểu phong tục, tập quán của nhân dân nơi đây. Vì thế, Báo QĐND đề nghị Quân khu 7 cho tôi về công tác tại Báo QĐND. Thuận cả đôi đàng.

Cuối tháng 10-1988, quyết định điều động tôi về Báo QĐND được ban hành, do Thiếu tướng Đặng Vũ Hiệp, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị ký. Khi ấy, tôi đang bận một chuyến công tác tại Campuchia nên đến đầu năm 1989 mới chính thức đặt ba lô tại số 63 Lý Tự Trọng, TP Hồ Chí Minh-trụ sở Ban đại diện Báo QĐND phía Nam bấy giờ.

leftcenterrightdel
Đại tá Trần Thế Tuyển (thứ hai, từ trái sang) cùng đại biểu cựu chiến binh Sư đoàn 5, cán bộ địa phương và Bộ đội Biên phòng thăm lại chiến trường xưa ở Long Khốt (xã Tuyên Bình, tỉnh Tây Ninh). Ảnh: GIẢI PHÓNG 

Một chặng đường mới của đời làm báo của tôi bắt đầu từ đó.

Về Báo QĐND, tôi được lãnh đạo định hướng sẵn sàng sang Campuchia, theo dõi hoạt động của Quân khu 7 và Quân khu 9. Tôi hiểu rằng đây không chỉ là một nhiệm vụ nghề nghiệp. Với tôi, đó còn là sự trở lại một chiến trường mà mình từng sống và chiến đấu, bằng một vai trò khác: Người cầm bút.

Chuyến công tác đầu tiên của tôi trên cương vị phóng viên Báo QĐND tại Campuchia là đi cùng Tổng biên tập Báo QĐND-Thiếu tướng Trần Công Mân. Cùng đi có Trưởng ban đại diện Báo QĐND phía Nam Vũ Linh và hai phóng viên của Phòng Thời sự quốc tế là chị Hồng Điệp (Thùy Chi) và nữ phóng viên trẻ Minh Tâm.

Đối với một người làm báo trẻ như tôi, đó là một lớp học đặc biệt. Tôi quan sát cách người đứng đầu một tờ báo của Quân đội đi thực tế, tiếp cận cơ sở, gặp gỡ cán bộ, chiến sĩ, lắng nghe thông tin và nhìn một sự kiện không chỉ bằng con mắt của người đưa tin mà bằng trách nhiệm của người làm báo chiến sĩ.

Sau chuyến đi ấy không lâu, tôi được giao phụ trách Phó trưởng ban, cùng làm việc với anh Phạm Đình Trọng, theo sự phân công của Trưởng ban Nguyễn Vũ Linh. Khi anh Nguyễn Vũ Linh nghỉ hưu, tôi tiếp tục làm Phó trưởng ban, anh Phạm Đình Trọng là Trưởng ban đại diện Báo QĐND phía Nam, đến năm 1999.

Những năm tháng ấy, Campuchia với tôi không chỉ là một địa bàn công tác. Đó còn là nơi tôi hiểu sâu hơn về những người lính Việt Nam làm nghĩa vụ quốc tế; về những hy sinh, gian khổ và cả những câu chuyện phía sau chiến trường mà không phải lúc nào cũng được nhìn thấy bằng những con số hay bản tin ngắn. Trong những vụ việc tôi từng tham gia theo dõi, có “vụ án Vũ Văn Nhồng” để lại trong tôi một dấu ấn đặc biệt.

Tôi nhớ vụ việc ấy không chỉ bởi tính chất phức tạp mà bởi phía sau một vụ án là số phận, danh dự của những người lính đang làm nghĩa vụ quốc tế. Có những sự thật nếu không được tìm đến tận cùng thì có thể bị khuất lấp bởi thời gian, bởi những cách hiểu khác nhau hoặc bởi những thông tin chưa đầy đủ. Vì tính chất nhạy cảm nghề nghiệp, chúng tôi phải tìm nhân chứng, gặp người trong cuộc, lần lại sự việc, kiểm chứng từng chi tiết. Không thể viết chỉ dựa vào một nguồn tin. Cũng không thể vì một kết luận đã có mà bỏ qua những chứng cứ, những lời kể và những góc khuất cần được làm sáng tỏ.

Từ câu chuyện Vũ Văn Nhồng, tôi càng thấm thía một điều: Làm báo không chỉ là đưa tin về những gì đã xảy ra; trong những trường hợp cần thiết, còn là hành trình đi tìm sự thật. Và khi sự thật ấy liên quan đến danh dự, nhân phẩm, số phận của người lính thì trách nhiệm ấy càng lớn.

Tôi nhớ những chuyến đi, những cuộc gặp, những lần tìm nhân chứng. Có khi chỉ một chi tiết tưởng như rất nhỏ lại mở ra một hướng tiếp cận mới. Có khi một lời kể của người trong cuộc giúp soi sáng một vấn đề tưởng như đã được kết luận.

Qua vụ việc ấy, tôi càng hiểu sâu hơn về nghề báo, đặc biệt là nhà báo chiến sĩ không chỉ viết về người lính. Trong những trường hợp cần thiết, còn phải dũng cảm bảo vệ sự thật của người lính.

Gần 15 năm thực tế làm việc tại Báo QĐND, từ năm 1989 đến 2003, tôi may mắn được các thế hệ đàn anh dìu dắt, được bạn bè, đồng nghiệp giúp đỡ và được thực tế nghề nghiệp rèn luyện.

Điều đầu tiên tôi học được là động cơ làm báo của nhà báo Quân đội. Tôi từng tự hỏi: Nhà báo chiến sĩ hay chiến sĩ làm báo? Sau nhiều năm, tôi nghĩ hai cách gọi ấy không đối lập. Người làm báo trong Quân đội trước hết phải có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và trách nhiệm của người lính. Khi cầm bút, người lính ấy phải biết quan sát, biết lắng nghe, biết suy nghĩ và biết chịu trách nhiệm trước từng dòng chữ của mình. Làm báo trong Quân đội không chỉ là đưa tin về Quân đội. Đó còn là phản ánh đời sống người lính, ghi lại những hy sinh thầm lặng, phát hiện những nhân tố mới, bảo vệ những giá trị tốt đẹp và góp phần xây dựng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân. Trong trường hợp cùng bộ đội ra trận, có lúc nhà báo phải trực tiếp cầm súng chiến đấu như một lính chiến thực thụ.

Điều thứ hai tôi học được là phương pháp làm báo. Tôi học từ các thế hệ lãnh đạo Báo QĐND như các anh: Trần Công Mân, Bùi Biên Thùy, Phan Khắc Hải, Đặng Văn Nhưng, Nguyễn Quang Thống, Phạm Huy Khảo... Tôi cũng học từ những cây bút lão thành, những người đã góp phần tạo nên uy tín và bản sắc của tờ báo, như: Phạm Hồng, Khánh Vân, Nguyễn Trần Thiết, Đức Toại, Phạm Đình Trọng (Khánh Tường)...

Mỗi người một phong cách, một sở trường. Nhưng ở họ có một điểm chung mà tôi luôn trân trọng: Trách nhiệm chính trị của nhà báo và sự nghiêm cẩn với nghề.

Tôi học cách đi thực tế, cách phát hiện vấn đề, cách lựa chọn chi tiết, cách kiểm chứng thông tin, cách viết một bài báo có thông tin mà vẫn có sức cuốn hút, lay động. Tôi cũng học cách giữ mình trước những cám dỗ, điều dễ dãi, nóng vội của nghề nghiệp.

Điều thứ ba là cách quản lý một tờ báo. Những năm tháng làm việc tại Báo QĐND giúp tôi có cơ hội quan sát và học hỏi các bậc đàn anh về tổ chức công việc, sử dụng con người, xây dựng đội ngũ phóng viên, cộng tác viên; tổ chức thông tin và giữ bản sắc của một tờ báo. Những điều học được ở Báo QĐND sau này trở thành hành trang quý giá khi tôi được giao trọng trách làm Tổng biên tập Báo Sài Gòn Giải phóng.

Nhìn lại, gần 15 năm ở Báo QĐND là quãng thời gian không quá dài so với một đời người, nhưng lại rất dài trong đời làm báo của tôi.

Tôi may mắn được làm việc bên những người đi trước-những nhà báo có tâm, có tầm, có trách nhiệm với nghề, với đời. Tôi may mắn được sống trong một môi trường báo chí mà ở đó nghề nghiệp gắn chặt với người lính, với đơn vị, với chiến trường và với trách nhiệm trước Đảng, trước Quân đội, trước nhân dân.

Từ một người lính từng tự phong mình là “phóng viên chiến trường”, tôi được đứng trong đội ngũ những người làm báo Báo QĐND. Những gì tôi có hôm nay, một phần quan trọng, được hình thành từ những năm tháng ấy.

Sau này, dù đảm nhiệm những nhiệm vụ khác, rồi trở lại với văn chương, tôi vẫn mang theo một món nợ nghề nghiệp với Báo QĐND. Món nợ ấy không phải là món nợ của chức vụ hay danh hiệu. Đó là món nợ của những năm tháng tuổi trẻ, của những chuyến đi, những đồng đội, những người thầy nghề nghiệp và những bài học về sự thật.

Năm tháng càng lùi xa, tôi càng hiểu: Một người làm báo có thể quên một bài viết mình từng viết, nhưng khó quên những con người đã cho mình bài học làm nghề. Với tôi, Báo QĐND là một phần như thế.

Đại tá TRẦN THẾ TUYỂN, nguyên Trưởng ban đại diện phía Nam Báo QĐND