Vào quân ngũ, Nguyễn Thế Lâm được đào tạo làm chiến sĩ trinh sát pháo binh. Sau đó ông được biên chế về Đại đội 8, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 95, Sư đoàn 325 làm liên lạc kiêm trinh sát viên. Tại Thành cổ Quảng Trị năm 1972, chỉ sau ít ngày đối mặt với những lần địch dùng pháo, bom khoan phá hầm, ông đã sớm rút ra một kinh nghiệm quý: Phải luôn cơ động linh hoạt, tuyệt đối không bám trụ cố định một vị trí. Bom đạn địch bắn phá liên tục, nếu cứ ở yên một chỗ thì đợt pháo sau thế nào cũng đánh trúng công sự. Sau mỗi đợt pháo kích dữ dội, ông lập tức giục đồng đội di chuyển sang vị trí khác. Có lần, linh cảm mách bảo nguy hiểm cận kề, ông vội cùng hai chiến sĩ rời căn hầm chữ A chạy sang công sự bên cạnh cách khoảng 20m. Khi mọi người vừa rời đi thì một quả pháo của địch đã rơi trúng căn hầm cũ, phá nát toàn bộ nơi họ vừa ẩn nấp.

leftcenterrightdel
Cựu chiến binh Nguyễn Thế Lâm cùng những kỷ vật thời còn chiến đấu của mình. Ảnh: CHÂU CHÂU 

Một lần khác ở phía Nam Thành cổ, Nguyễn Thế Lâm cùng đồng đội nhận nhiệm vụ chốt chặn. Phát hiện xe tăng địch áp sát cách vị trí chỉ chừng 50m, ông yêu cầu anh em tận dụng các vỏ bao xi măng quanh trận địa quấn quanh người và mũ cối để ngụy trang đồng màu với đất đá đổ nát. Không may trong lúc họ di chuyển, địch vẫn phát hiện và xả súng, nã pháo dữ dội vào trận địa. Ông Lâm kịp thời lao xuống một công sự gần đó để ẩn nấp nên tránh được mảnh đạn pháo của địch, nhưng người đồng đội bên cạnh tên là Tấn chưa kịp xuống hầm trú ẩn nên đã bị mảnh đạn găm vào đùi và cánh tay. Ông khẩn trương cơ động sang kéo đồng đội vào nơi an toàn, rồi băng bó cầm máu, kịp thời cứu sống đồng đội.

Khốc liệt nhất là trận đánh vào đầu tháng 8-1972. Đơn vị bị thương vong nhiều, ông Lâm được điều động về Khẩu đội cối 82mm, do Trung đội trưởng Ái trực tiếp phụ trách. Khẩu đội bố trí trận địa cạnh một tòa nhà kiên cố nhằm tận dụng mảng tường tầng một còn lại làm vật che khuất. Bất ngờ, pháo địch bắn trúng trận địa và máy bay địch giội bom đánh sập hoàn toàn mảng tường còn lại của tòa nhà, vùi lấp cả 4 người sâu dưới đống đổ nát.

Tỉnh dậy giữa không gian tối đen như mực, đất cát nghẹt thở, ông Lâm chợt nhận ra tiếng gọi nhọc nhằn của đồng chí Xuyên: “Các anh còn sống không?”. Ông bò dậy, lần theo hướng âm thanh, cùng đồng chí Xuyên bới gạch đá và luồn lách qua một khe hở nhỏ thoát thân. Vừa thoát khỏi cửa tử, bỏ qua cơn choáng váng và đầu đẫm máu, ông vội chạy về ban chỉ huy Đại đội cách đó vài chục mét hô hoán anh em mang theo dụng cụ quay lại hiện trường để cứu đồng đội. Họ đào bới, phá từng mảng tường dày để cứu Trung đội trưởng Ái và đồng chí Bạch đang bị thương rất nặng. Nhưng do vết thương quá nặng, đồng chí Bạch đã không qua khỏi. Chỉ đến khi công việc cứu hộ hoàn tất, đồng đội mới bàng hoàng phát hiện máu trên đầu ông Lâm đã chảy ướt đẫm áo. Vết thương ấy sau này được xác định bị nứt hộp sọ kèm di chứng suốt đời là hay bị nấc cụt kéo dài cả ngày lẫn đêm.

Thậm chí, có lần ông đã thoát chết một cách hy hữu trong một trận máy bay B-52 địch rải thảm. Hôm đó, đang ở trong hầm, ông nghe tiếng đồng đội tên là Tâm đứng cách đó khoảng vài chục mét gọi ông ra ngoài để đi họp. Vốn thân thiết với nhau, ông không đi ngay mà đứng ở gần cửa hầm giả vờ điếc, trêu bạn: “Gọi tao đi đâu đấy? Rủ đi hái sim à?”. Chính vài giây chần chừ để đùa đồng đội ấy đã giúp ông kịp nhìn thấy loạt bom Mỹ thả xuống. Ông vội hét lớn: “Bom!”, rồi lao thốc vào hầm, ông Tâm cũng lập tức nhảy vào nơi ẩn nấp. Dứt đợt oanh tạc của địch, bước ra khỏi hầm, cả hai bàng hoàng nhận thấy ngay đúng vị trí các ông đứng ban nãy đã bị mảnh bom cắm lỗ chỗ. Hai người lính nhìn nhau, thầm cảm thấy may mắn vì đã thoát chết.

Sau ngày giải phóng miền Nam, ông tiếp tục phục vụ Quân đội. Đến tháng 8-1980 trở lại học tập tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Ông hoàn thành khóa học năm 1984 rồi về công tác tại Thông tấn xã Việt Nam cho đến ngày nghỉ hưu năm 2012. Trở về với đời thường, ông Lâm và những người lính sinh viên nhập ngũ ngày 6-9-1971 đã cùng nhau khởi xướng ý tưởng, liên hệ các cơ quan chức năng cho phép xây dựng “Đài chứng tích sinh viên-chiến sĩ Thành cổ Quảng Trị mùa hè năm 1972” và phát động quyên góp kinh phí để xây dựng. Đến tháng 4-2002, ông Lâm cùng đồng đội nghẹn ngào trở lại chiến trường xưa, dự lễ khánh thành “Đài chứng tích sinh viên-chiến sĩ Thành cổ Quảng Trị mùa hè năm 1972”. Công trình không chỉ là nén tâm nhang tri ân những người con ưu tú đã ngã xuống ở tuổi đôi mươi mà còn là biểu tượng bất tử cho khúc tráng ca của thế hệ sinh viên xếp bút nghiên lên đường đánh giặc.

BẢO CHÂU