Nặng tình non nước

Kỹ sư Võ Quí Huân sinh ngày 7-11-1912, trong một gia đình có truyền thống cách mạng ở Thanh Chương, Nghệ An. Tuổi thiếu niên, chứng kiến nhiều cuộc biểu tình của những người nông dân yêu nước bị thực dân Pháp đàn áp đẫm máu, từ đó, lòng căm thù giặc ngoại xâm, ý chí muốn giúp dân, giúp nước đã in sâu trong tâm trí Võ Quí Huân.

Năm 19 tuổi, ra Hà Nội, Võ Quí Huân quyết tâm học tập và xác định “phải học tập cho giỏi để sau này phụng sự quê hương, đất nước”. Sau khi trở về Vinh, ông ra tờ báo Đông Dương hoạt động in bằng 3 thứ tiếng: Hán, Việt, Pháp. Ông làm chủ nhiệm, phóng viên kiêm thư ký tòa soạn của báo. Báo Đông Dương hoạt động phát hành được một thời gian thì bị mật thám theo dõi và bắt dừng hoạt động vì mang nội dung tiến bộ, đấu tranh chống thực dân, phong kiến. Để tránh bị mật thám bắt, ông trốn sang Pháp tiếp tục con đường học tập và làm việc.

Mùa hè năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh có chuyến công du nước Pháp nhằm mưu cầu nền độc lập bền vững cho nước nhà. Bác đã mời một số trí thức Việt kiều yêu nước tại Pháp theo Bác về Việt Nam chuẩn bị cho cuộc trường kỳ kháng chiến của dân tộc, đó là kỹ sư Phạm Quang Lễ (sau đổi tên là Trần Đại Nghĩa), kỹ sư Võ Quí Huân, kỹ sư Võ Đình Quỳnh và bác sĩ Trần Hữu Tước.

leftcenterrightdel

Kỹ sư Võ Quí Huân.

Trong hồi ký của mình, Giáo sư Trần Đại Nghĩa từng nhắc lại câu chuyện năm xưa: “Ngày ấy, tôi và anh Tước, anh Quỳnh còn độc thân nên không bị vướng bận chuyện gia đình. Nhưng anh Võ Quí Huân đã có gia đình riêng, vợ anh là tiến sĩ ngôn ngữ, người Pháp gốc Nga và con gái mới 2 tuổi... Trên tàu, thỉnh thoảng chúng tôi thấy anh Huân có chút bâng khuâng nhìn về phía xa xăm trên biển cả. Anh em chúng tôi rất quý mến và cảm phục anh Võ Quí Huân. Chắc chắn anh đã phải trải qua những giờ phút đắn đo, cân nhắc, phải xa vợ trẻ và con thơ thật không dễ. Anh Võ Quí Huân đã về nước theo tiếng gọi của Tổ quốc, con tim anh nặng tình nước non”.

Từ mẻ gang đầu tiên...

Sau khi về nước, kỹ sư Võ Quí Huân được phân công làm Chánh văn phòng Bộ Kinh tế, rồi được bổ nhiệm làm Giám đốc Sở Khoáng chất-Kỹ nghệ Trung Bộ, Tổng thư ký Hội đồng Sản xuất kỹ nghệ miền Nam và Liên khu 4, kiêm chức Hiệu trưởng Trường Cán bộ kỹ thuật Trung Bộ... Là người được đào tạo bài bản, có kiến thức chuyên sâu về ngành đúc-luyện kim, cơ điện, kỹ nghệ chuyên nghiệp ở Pháp, nhưng trong bối cảnh kháng chiến thiếu thốn mọi bề, từ nhân lực đến tài liệu chuyên môn, thiết bị, nguyên vật liệu chế tạo cơ khí, địch lại thường xuyên lùng sục, đánh phá khu kháng chiến, kỹ sư Võ Quí Huân đã tổ chức gấp hàng loạt công việc cần thiết: Từ di chuyển toàn bộ máy móc, thiết bị lên chiến khu đến thành lập các công xưởng sản xuất, khai thác một số mỏ... và tổ chức đào tạo cấp tốc lớp cán bộ kỹ thuật phục vụ ngành đúc-luyện kim.

leftcenterrightdel
Kỹ sư Võ Quí Huân (thứ tư, từ phải sang) giới thiệu công trình chuẩn bị dự triển lãm năm 1949, gồm: Tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh, mô hình lò cao thí nghiệm 3KC, nồi hơi, máy phát điện. Ảnh do gia đình nhân vật cung cấp

Kỹ sư Lê Huy Yêm, một trong những học sinh Trường Cán bộ kỹ thuật Trung Bộ khóa I, nhớ lại: “Với cương vị Giám đốc Sở Khoáng chất-Kỹ nghệ Trung Bộ, thầy Võ Quí Huân đã cho sơ tán hơn 3.000 tấn thiết bị, dụng cụ, vật liệu của các nhà máy Trường Thi, Bến Thủy, thành lập 5 cơ sở sản xuất phân tán để sản xuất các lò sinh khí, làm nhiên liệu thay thế ét-xăng chạy ô tô, ca nô. Nghiên cứu đóng ca nô giải quyết phương tiện vận tải đường sông, sản xuất nhiều sản phẩm phục vụ kháng chiến như: Cồn công nghiệp 90 độ, máy nghiền bột giấy, máy công cụ nhỏ, lốp xe đạp... Thầy hướng dẫn cán bộ, công nhân xưởng kim khí kháng chiến (3KC) sản xuất thí nghiệm thành công mẻ gang đầu tiên từ quặng sắt Vân Trình (Nghệ An) và đào tạo đội ngũ cán bộ, công nhân luyện gang đầu tiên cho đất nước”.

Lăn lộn với cơ sở, trực tiếp vào hầm, lò tìm kiếm nguyên vật liệu phục vụ công việc, đó là những ngày tháng quên mình của kỹ sư Võ Quí Huân để làm ra vũ khí, quân cụ phục vụ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc. Ngày 20-9-1947, trong thư gửi bác sĩ Trần Hữu Tước, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “... Mấy anh em cùng về một lần với chúng ta, chú Nghĩa và chú Huân làm việc rất hăng hái và đắc lực, đã giúp sức rất nhiều trong công việc kháng chiến”.

Ngày 15-11-1948 đã đi vào lịch sử ngành đúc-luyện kim nước ta khi lò cao đầu tiên đã nấu chảy quặng sắt và mẻ gang đầu tiên của kháng chiến ra lò tại rừng Cầu Đất, Con Cuông, Nghệ An. Mẻ gang này sau đó được kỹ sư Võ Quí Huân chỉ đạo đúc tượng bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh, đem triển lãm ở Liên khu 4 năm 1949, sau đó gửi ra Việt Bắc để báo cáo với Bác Hồ. Sự kiện này không chỉ đánh dấu mốc son của ngành đúc-luyện kim mà còn có ý nghĩa với cả ngành công nghiệp nặng của đất nước. Nó chứng tỏ rằng người Việt Nam có thể làm chủ được công nghệ luyện gang từ quặng sắt Việt Nam, bằng than cốc luyện từ than mỡ Việt Nam.

Rút kinh nghiệm từ lò cao thí nghiệm, kỹ sư Võ Quí Huân đã cho thiết kế lò cao có dung tích lớn để cung cấp nhiều gang cho kháng chiến. Do yêu cầu bảo đảm bí mật, đồng thời do quân đội Pháp nhiều lần phát hiện, ném bom, bắn rocket phá hủy nơi sản xuất, kỹ sư Võ Quí Huân đã cùng công nhân của xưởng liên tục di chuyển địa điểm từ khu rừng Cầu Đất về xóm Cát Văn rồi đến Như Xuân (Thanh Hóa). Điều đặc biệt là mỗi lần bị phá hủy, phải di chuyển là mỗi lần lò cao được ông và các cộng sự thiết kế, xây dựng lại với công suất lớn hơn, giải pháp kỹ thuật ưu việt hơn và chất lượng gang mỗi ngày một cao hơn.

... đến luyện thép để làm vũ khí phục vụ kháng chiến

Bên cạnh những hoạt động của lò cao luyện gang Như Xuân, cuối năm 1950, trước yêu cầu mới của cuộc kháng chiến, Cục Quân giới được lãnh đạo Bộ Quốc phòng giao thêm nhiệm vụ mới: Nghiên cứu và luyện thép-nguyên liệu làm vũ khí cho ngành quân giới.

Thực hiện chủ trương xây dựng và phát triển ngành đúc-luyện kim, kỹ sư Võ Quí Huân được điều lên Việt Bắc phối hợp với các cán bộ của Cục Quân giới nghiên cứu thực nghiệm luyện thép bằng lò điện. Ông Dương Quang Thành, nguyên cán bộ Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng nhớ lại: “Khi đó, tôi phụ trách cơ khí và luyện kim, còn anh Võ Quí Huân chuyên trách về xây lò cao. Phòng Cơ khí của chúng tôi có ít người nhưng quây quần với nhau rất thân. Anh Huân đã đóng góp rất nhiều, trực tiếp nghiên cứu và chỉ đạo quá trình làm ra gang, thép trong điều kiện hết sức khó khăn: Không có vật liệu trong tay, không có gạch chịu lửa, không có nguyên liệu... Việc nghiên cứu như thế nào để cho gang, thép nung chảy là vấn đề mà cả anh Huân và tôi phải tự mày mò tìm hiểu. Chúng tôi luôn tâm niệm lò cao nào làm ra được vũ khí đánh giặc thì mình làm, vì mình là trí thức, phải phục vụ cách mạng, phục vụ đất nước. Gang thì làm lựu đạn, có gang mới có thép. Thời kỳ đó, thép là nguyên liệu quan trọng nhất để làm ra vũ khí phục vụ các chiến dịch lớn...”.

Sau nhiều lần thí nghiệm, các vấn đề về hồ quang điện, vật liệu chịu lửa và chống tản nhiệt cho lò đã được giải quyết, tháng 10-1951, lò thí nghiệm sản xuất đầu tiên đã được kỹ sư Võ Quí Huân và các đồng nghiệp hoàn thành, bắt đầu cho chạy thử. Sau 2 giờ đồng hồ chạy lò, thép đã chảy, nước thép theo máng nhỏ chảy ra vừa đủ đúc một chiếc cuốc chim. Như vậy, mẻ thép đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã được nấu luyện thành công.

Dựa trên kết quả thí nghiệm, tháng 11-1951, kỹ sư Võ Quí Huân và các đồng nghiệp về Bản Thi, Chợ Đồn, Bắc Kạn, cùng với Binh công xưởng H52 tiến hành thiết kế lò thép lớn đưa vào sản xuất.

Công trình luyện gang, thép của kỹ sư Võ Quí Huân và các đồng nghiệp thành công đã cung cấp gang, thép cho ngành quân giới sản xuất vũ khí, quân cụ (cuốc chim, xẻng, búa tạ) kịp thời phục vụ quân và dân ta đánh giặc, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, kỹ sư Võ Quí Huân trải qua nhiều cương vị công tác: Hiệu trưởng Trường Kỹ nghệ Thực hành Hà Nội (nay là Đại học Công nghiệp Hà Nội); Tổ trưởng Tổ Đúc-Luyện kim, Ủy ban Khoa học Nhà nước; đồng thời là Trưởng ban vận động thành lập Hội Đúc-Luyện kim Việt Nam; từ năm 1966, ông là Phó hội trưởng Hội Đúc-Luyện kim Việt Nam. Đây là những năm tháng hoạt động sôi nổi, tâm huyết của kỹ sư Võ Quí Huân vì sự nghiệp phát triển ngành đúc-luyện kim Việt Nam.

BÌNH AN