Quan điểm của Hồ Chí Minh về thời cơ cách mạng
Nói đến thời cơ là nói đến thời gian, thời điểm có lợi nhất để thực hiện một cuộc cách mạng. Là nhà cách mạng đầy trải nghiệm, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của yếu tố thời cơ. Trong thư “Kính cáo đồng bào” viết ngày 6-6-1941, Hồ Chí Minh lý giải sự thất bại của các phong trào chống Pháp từ trước đến nay “không phải vì đế quốc mạnh, nhưng một là vì cơ hội chưa chín, hai là vì dân ta chưa hiệp lực đồng tâm”. Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, Người khái quát: Trong quân sự, thời gian là rất quan trọng, điều kiện thiên thời đứng vào bậc nhất, trước địa lợi và nhân hòa. Có tranh thủ được thời gian mới bảo đảm được yếu tố thắng địch. Qua bài thơ “Học đánh cờ”, Người đúc kết: “Lạc nước, hai xe đành bỏ phí/ Gặp thời, một tốt cũng thành công”.
Hồ Chí Minh nhấn mạnh tầm quan trọng của thời không chỉ bằng lời nói mà còn bằng hành động kiên quyết hoãn những kế hoạch khởi nghĩa non, nhưng cũng quyết đoán kêu gọi quần chúng đứng lên đấu tranh khi tình thế cách mạng trực tiếp xuất hiện. Người cho rằng, thời là sự hội tụ đầy đủ cả điều kiện khách quan lẫn điều kiện chủ quan, nhưng khoảng thời gian đắc dụng do điều kiện khách quan mang lại thường rất ngắn. Do đó, sự nỗ lực chủ quan là nhân tố chính yếu tạo nên thời. Muốn tranh thời-một mắt xích quan trọng trong chiến lược “tạo lực, lập thế, tranh thời, dùng mưu” của học thuyết quân sự phương Đông, người cách mạng phải biết dự đoán thời cơ, phải chủ động tạo dựng thời cơ bằng cách kiên trì nâng cao thế và lực của cách mạng, phải nhạy cảm nhận biết thời cơ và dũng cảm nắm bắt khi thời cơ đến.
Thời trong tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của quá trình nhận thức và hành động mang tính chủ động, liên hoàn của người cách mạng chứ không phải là sự may rủi do điều kiện khách quan mang lại. Là người có tư duy biện chứng, Hồ Chí Minh đề cao chữ “thời”, nhưng không đẩy nó lên vị trí độc tôn mà đặt nó trong quan hệ chặt chẽ với 3 yếu tố còn lại để tạo nên một chuỗi yếu tố quyết định sự thành bại của hoạt động cách mạng là lực-thế-thời-mưu. Trước hết, cần phải giải quyết mối quan hệ giữa thế và lực vì khi thế và lực vận động đến đỉnh cao sẽ tạo ra thời. Sau đó, mưu sẽ khuếch trương cái lực, cái thế, cái thời đạt tới hiệu quả tối đa... Sự phối hợp, biến hóa liên tục giữa thời và thế, lực và mưu làm cho nghệ thuật quân sự nói riêng và nghệ thuật lãnh đạo nói chung của Hồ Chí Minh trở nên vô cùng phong phú, sáng tạo.
Sự vận dụng trong Cách mạng Tháng Tám
Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một đặc điểm trong tư duy và hành động của Hồ Chí Minh nên chữ “thời” trong tư tưởng của Người luôn có đích đến là thực tiễn cách mạng. Dự đoán thời cơ, chuẩn bị thời cơ, nhận đúng thời cơ, chớp lấy thời cơ là 4 khâu liên hoàn trong logic nhận thức và hành động của Hồ Chí Minh cũng như của Đảng ta.
Thứ nhất, về dự đoán thời cơ, Hồ Chí Minh là người có khả năng “tiên tri”. Trở về nước sau 30 năm hoạt động quốc tế, tại Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5-1941), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nhận định về thời cơ của cách mạng Đông Dương như sau: Rồi đây những thắng lợi của Liên Xô, sự tan rã của phát xít quốc tế và sự cùng khổ của nhân dân các nước phát xít sẽ thúc đẩy cho cách mạng bùng nổ tại nhiều nước. Năm 1942, trong tác phẩm “Lịch sử nước ta”, Hồ Chí Minh đã chỉ ra dấu mốc cụ thể mà Việt Nam sẽ giành độc lập là năm 1945. Nhờ sự dự báo thời cơ chính xác, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương đã hoàn toàn chủ động trong việc chuẩn bị lực lượng cho những bước ngoặt lịch sử.
Thứ hai, về chuẩn bị thời cơ thì Đảng đã nỗ lực tạo lập tiềm lực về mọi mặt. Muốn cách mạng thắng lợi, đầu tiên phải có đường lối đúng, cụ thể ở đây là đường lối về cách mạng giải phóng dân tộc, về khởi nghĩa giành chính quyền. Tại Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5-1941), khi bàn về mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ phản đế và phản phong, Đảng ta xác định rõ: Cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề phản đế và điền địa nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp “dân tộc giải phóng”. Do đó, vấn đề ruộng đất lúc này tạm gác lại để dồn sức cho cuộc đấu tranh chống đế quốc, giành độc lập dân tộc. Việc giương cao ngọn cờ chống đế quốc, giành độc lập dân tộc đã góp phần quy tụ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cách mạng muốn thành công phải có lực lượng quần chúng đông đảo nên Mặt trận Việt Minh-tổ chức chính trị mang tính dân tộc sâu sắc, đã phát huy vai trò trong việc tập hợp các tổ chức cứu quốc như: Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Binh lính cứu quốc, Phụ lão cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Nhi đồng cứu quốc... Muốn giành thắng lợi trong khởi nghĩa vũ trang thì phải có lực lượng vũ trang.
Thực hiện chỉ thị của Hồ Chí Minh, ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập và tháng 4-1945, các tổ chức vũ trang cách mạng đã thống nhất hợp thành Việt Nam Giải phóng quân. Lực lượng vũ trang đã có nhưng muốn nâng cao sức chiến đấu của nó thì phải có vũ khí. Tháng 8-1944, Trung ương Đảng ra lời kêu gọi “Sắm vũ khí, đuổi thù chung” với những lời đầy thuyết phục: Một đồng tiền quyên cho quỹ mua súng lúc này (...) là một viên gạch để xây đắp lâu đài độc lập cho dân tộc Việt Nam. Hồ Chí Minh luôn xác định, khởi nghĩa giành chính quyền của ta phải là khởi nghĩa toàn dân, lấy lực lượng vũ trang làm lực lượng nòng cốt. Vì thế, Đảng đã kiên trì tập dượt cho quần chúng đấu tranh qua 3 cao trào cách mạng. Nhờ sự chuẩn bị kỹ lưỡng, đến thời điểm Cách mạng Tháng Tám, Đảng đã có trong tay đội quân chính trị rộng lớn và lực lượng vũ trang hết sức quả cảm.
Trong quá trình tạo lực, Hồ Chí Minh và Đảng ta xác định, cách mạng giải phóng dân tộc muốn giành thắng lợi thì phải thiết lập được quan hệ quốc tế rộng rãi và tạo thế pháp lý cho chính quyền cách mạng tương lai. Ý thức về tầm quan trọng của công tác đối ngoại, với những bước đi vô cùng khéo léo, ngày 29-3-1945, Hồ Chí Minh đã có cuộc gặp gỡ với tướng Chennault, Tư lệnh Không đoàn 14 của không quân Mỹ ở Côn Minh, Trung Quốc. Trong cuộc tiếp xúc đó, Hồ Chí Minh đã đề nghị phía Mỹ giúp đỡ Mặt trận Việt Minh về vũ khí, thuốc men và huấn luyện cán bộ quân sự. Đổi lại, Việt Minh sẽ cung cấp cho người Mỹ thông tin về khí tượng, sự bố phòng và di chuyển của quân đội Nhật ở Đông Dương và cứu giúp những phi công Mỹ bị bắn rơi trên đất Việt Nam. Theo thỏa thuận, vào ngày 16-7-1945, nhóm “Con nai” của lực lượng OSS dưới sự chỉ huy của Thiếu tá Thomas đã nhảy dù xuống Tuyên Quang để phối hợp hành động với Mặt trận Việt Minh. Điều này đã gây “thanh thế” cho Mặt trận Việt Minh và tạo thế pháp lý cho chính quyền cách mạng. Trong Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Các nước Đồng minh “quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam. Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”(1).
Sự kiên trì tạo lực, lập thế trên mọi phương diện của Đảng Cộng sản Đông Dương đã thể hiện năng lực tổ chức thực tiễn của Đảng. Kết quả là, khi điều kiện khách quan xuất hiện thì điều kiện chủ quan đã sẵn sàng. Sự kết hợp hài hòa giữa điều kiện chủ quan và khách quan đã tạo ra “điểm nổ” chính xác và hiệu quả. Đó là kết quả của quá trình chuẩn bị thời cơ, thúc đẩy thời cơ trên tinh thần cách mạng tiến công.
Thứ ba, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương luôn bám sát tình hình thế giới để nhận biết đúng thời cơ. Ngay khi Nhật đầu hàng các nước Đồng minh (ngày 14-8-1945), Đảng đã khẳng định: Tình thế cách mạng trực tiếp đã xuất hiện. Mặt khác, việc nắm được kế hoạch các nước Đồng minh sẽ vào Đông Dương để tước vũ khí của Nhật theo quyết định của Hội nghị Potsdam (từ ngày 17-7 đến 2-8-1945) đã giúp Đảng ta thêm quyết liệt trong cuộc chạy đua về thời gian để giành chính quyền trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương.
Thứ tư, Đảng Cộng sản Đông Dương đã dũng cảm, linh hoạt chớp thời cơ. Đảng ta đã nhận thức đúng đắn rằng: Những kẻ chuẩn bị vào tước vũ khí của Nhật cũng nhăm nhe cướp luôn độc lập của dân tộc ta và chỉ bằng con đường khởi nghĩa ngay lập tức thì dân tộc Việt Nam mới có thể giành độc lập. Trong điều kiện thời cơ vô cùng ngắn ngủi, Trung ương Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã nhanh chóng thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc và kịp thời đề ra Quân lệnh số 1: “Giờ tổng khởi nghĩa đã đánh! Cơ hội có một cho quân dân Việt Nam vùng dậy giành lấy quyền độc lập của nước nhà! (...)Chúng ta phải hành động cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng”. Chỉ đạo các cuộc khởi nghĩa, Đảng xác định 3 nguyên tắc hành động là tập trung, thống nhất, kịp thời. Thực hiện ý chí của Hồ Chí Minh “dù hy sinh đến đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập”(2), hơn 20 triệu đồng bào cả nước đã nhất tề đứng dậy “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.
Sự chuẩn bị hết sức công phu cùng với sự quyết đoán khi thời cơ đến của Đảng đã làm nên điều kỳ diệu: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong cái chớp mắt của lịch sử”(3). Chữ “thời” trong tư tưởng Hồ Chí Minh và bài học thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã chứng minh: Thời cơ của một dân tộc, một chính đảng hay một con người luôn tồn tại, nhưng tồn tại dưới dạng tiềm năng. Muốn tiềm năng biến thành sức mạnh vật chất thì phải thông qua sự nỗ lực mang tính tự giác và sáng tạo của chủ thể hành động. Việc thấu hiểu những bài học lịch sử, trong đó có bài học về thời cơ của Cách mạng Tháng Tám sẽ giúp Đảng ta và dân tộc ta chủ động đón nhận thời cơ, vận hội, đẩy lùi nguy cơ, thách thức để vững vàng bước vào kỷ nguyên mới.
-------------------
(1) Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, năm 2011, tập 4, trang 13
(2) Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, năm 1969, trang 212
(3) Võ Nguyên Giáp: Chiến đấu trong vòng vây, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, năm 1995, trang 18
PGS, TS TRẦN THỊ MINH TUYẾT