Nhớ ngày mới lên đường nhập ngũ, tháng 9-1971, Nguyễn Văn Thạc, tác giả của cuốn nhật ký “Mãi mãi tuổi hai mươi” đã nói như một nhà tiên tri. Hình như học theo Hồ Chủ tịch, nhiều lần anh bảo chúng tôi: “Bảy nhăm sự nghiệp hoàn thành”. Chúng tôi đoán anh dựa theo câu thơ Bác viết trong cuốn “Việt Nam lịch sử diễn ca”: “Bốn nhăm sự nghiệp hoàn thành”. Chúng tôi cũng không ngờ anh còn tiên tri chính xác hơn, khi viết cho người mình yêu trong một lá thư rằng đến ngày 30-4-1975, sẽ trả lời cho câu: “Hạnh phúc là gì?”.

Nghe một chàng trai thông minh và nhạy cảm đoán rằng 4 năm nữa mới kết thúc chiến tranh, chúng tôi không khỏi thở dài, buồn bã. Con đường tiến về Sài Gòn còn xa mênh mang quá. Buồn hơn là sau khi tiên đoán vậy, chỉ 3 tháng sau, anh đã anh dũng hy sinh trên chiến trường Quảng Trị.

Những ngày đầu năm 1975, Trung đoàn 101, Sư đoàn 325 chúng tôi sống những ngày tháng chờ đợi lê thê giữa các thôn làng bờ Bắc sông Thạch Hãn. Tôi là Trung đội phó thông tin thuộc Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn. Sau 4 năm giải phóng, thị xã Quảng Trị và Đông Hà vẫn đóng băng trong khuôn khổ chiến trường. Buồn và rỗi, chúng tôi vào các thư viện mượn sách đọc. Nhưng hỏi cuốn nào mình thích, các cô thủ thư ở Đông Hà cũng lắc đầu, trả lời không có, thậm chí chưa nghe tên sách đó bao giờ. Đồng bào Quảng Trị vẫn rất nghèo. Trẻ em gần như không có lớp để học. Bà con đến đơn vị chúng tôi xin từng tấm tôn, mảnh gỗ về lợp lại mái che. Những chàng tân binh mới bổ sung về đơn vị chúng tôi, nếu vắng thủ trưởng là rủ nhau ra bờ suối khóc nhớ nhà. Trung đoàn phải tổ chức luyện tập, báo động giả, nổ súng, ném lựu đạn. Nghe tiếng nổ, các chiến sĩ tân binh mới hết nhớ nhà, vui vẻ, lạc quan trở lại. Lúc đó, chúng tôi mong được xuất kích, được nổ súng. Chiến tranh kéo dài lắm rồi.

leftcenterrightdel
Tác giả Trần Ngọc Tâm (bên phải) trong một lần gặp mặt đồng đội. Ảnh: MẠC YÊN 

Cuối tháng 2, đơn vị có lệnh hành quân. Mỗi người khoác trên vai 30-40kg gạo, đạn, mỗi ngày đi 20km, hành quân xuyên rừng qua các địa danh đọc lên ngân nga như tiếng hát: Ba Lòng, Đăkrông, Sê Pôn, A Sầu... Xuyên đường khe cạn, vách đá cheo leo, chúng tôi tràn xuống đồng bằng. 

Sang tháng 3, đơn vị chúng tôi đã đến địa điểm tập kết. Nghe nói đây là chân cao điểm 312, trên đó đang có địch. Các tiểu đoàn khác cũng tiến dần vào vị trí tác chiến. Đặc biệt là pháo binh. Lính bộ binh được đi hỗ trợ kéo pháo, tiếng hò vang động núi rừng. Vui quá! Chiến dịch mở thật rồi. Khí thế hào hùng và đông vui lắm! Chúng tôi nhớ đến nỗi buồn của Thạc. Nếu không cố giữ chiếc máy 2W, Thạc đã không bị pháo bắn trúng và giờ này anh đang đồng hành với chúng tôi bước vào chiến dịch mùa xuân...

Đang chuyện trò rôm rả, pháo địch từ nhiều hướng bắn vào đội hình, làm gần một tiểu đội hy sinh. Phải kéo pháo bí mật! Đội kéo pháo thay đổi hiệu lệnh, không được hò dô như kiểu kéo pháo ở Điện Biên Phủ, chỉ cho một người đứng chỗ cao, cầm cành cây đánh nhịp như điều khiển dàn nhạc. Bộ đội ngậm tăm, nhìn “nhạc trưởng”, lấy đà siết tay chão. Khẩu pháo lặng lẽ, từ từ leo lên đến đỉnh. Các cao điểm bên ta chiếm giữ cũng cao ngang với các cao điểm do quân ngụy chiếm. Quân địch nhìn thấy pháo ta nhưng sợ, không dám nổ súng. Nhìn từ trên cao xuống Đường 1, lính tráng khoan khoái, thấy rõ từng chiếc ô tô đi lại, có chỗ còn nhìn thấy biển. Trong lòng chúng tôi như vang lên câu hát: “Tiến về Sài Gòn ta quét sạch giặc thù/ Tiến về đồng bằng, giải phóng thành đô”...

Đến Tam Kỳ, Trung đoàn chúng tôi đã được cơ giới hóa. Ba lô, súng đạn đều được chất hết lên xe. Ngồi trong xe đã có thể yên tâm cởi giày, ngủ gật, vì các đơn vị xuất phát trước đánh nhanh như lốc cuốn. Trên các cung đường từ Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Tuy Hòa, Nha Trang đến Cam Ranh, xe chúng tôi chạy một mạch. Dọc đường, bà con vùng ven vẫy chào vui vẻ, mạnh dạn hơn, có người còn mang xôi gà, trái cây ra tiếp tế. Chỉ có một tuần, chúng tôi đã xa Đà Nẵng khoảng 400km rồi. Lính tráng được ngủ đẫy giấc, khỏe hẳn lên. Ngày 15-4-1975, chúng tôi tiến đánh Phan Rang. Xe chở lính cùng xe tăng, thiết giáp, pháo phòng không, pháo mặt đất, pháo tự hành, ĐKZ... nối nhau chạy dọc Đường 1.

Đơn vị tôi được “chia phần” đánh sân bay Thành Sơn. Đội hình chúng tôi bị bom đánh cháy vài ba xe, hy sinh một số đồng chí. An táng vội đồng đội, gạt xe sang một bên, đoàn xe lại được nối liền. Chúng tôi vào thành phố, ngỡ ngàng vì một thiên đường rau xanh, hoa quả, củ. Người dân tò mò như chưa bao giờ nhìn thấy Quân Giải phóng. Có cô gái còn giả vờ bắt tay, cấu mạnh thử xem tôi có phải như tuyên truyền là lính Bắc Việt “vô cảm, mình đồng, da sắt” hay không. Chúng tôi nhăn mặt kêu đau, còn các cô gái cũng cười ngạc nhiên: Thì ra lính Bắc Việt cũng đau như người thường.

Ngày 17-4-1975, nghe nói phía biển, ấp làng chài Sơn Hải có địch đang kháng cự. Tiểu đoàn tôi được lệnh tấn công, nhanh chóng nhảy xuống xe, tản ra các bờ ruộng, trận đánh diễn ra như trên thao trường huấn luyện. Hai bên bắn nhau được khoảng 10 phút, nghe phần lớn là tiếng súng AK, B40, B41, thỉnh thoảng mới có tiếng súng AR15 và phóng lựu M79. Cách bắn rất điềm đạm và tiết kiệm đạn. Rồi có tiếng hô “quân miềng, quân miềng”. Hai bên xua tay, đã nhận ra nhau. May, không ai hy sinh. Hai bên đều khen nhau dũng cảm, đánh hay. Hóa ra, đó là du kích địa phương. Vì chưa bao giờ thấy ta có xe cơ giới nên họ đã tổ chức đánh chặn. Ngày 22-4-1975, Xuân Lộc vừa được giải phóng, xác lính ngụy vẫn nằm hai bên đường, thỉnh thoảng còn có cả thương binh ngụy ngồi cầu xin. Đoàn quân cứ lướt đi, hướng về phía dinh Độc Lập.

Trưa 30-4-1975, Đài Phát thanh Sài Gòn đã phát đi tuyên bố đầu hàng của tướng Dương Văn Minh. Nhiều người nghe tin, quỳ luôn xuống lề đường, ngửa mặt lên trời khóc. Lúc đầu, đơn vị tôi được quán triệt: Mọi hướng đều tiến vào dinh Độc Lập. Nhưng có tin báo xe tăng ta đã húc đổ cổng dinh, đơn vị tôi được lệnh rẽ sang chốt giữ cảng Cát Lái. Nhân dân, phóng viên, nhà báo, thợ chụp ảnh vây lấy đoàn quân mà hỏi han, xin chụp ảnh cùng. Đến lúc này, quần áo chúng tôi qua bao ngày chạy đuổi địch đã xộc xệch, bụi đất bám cứng như mo nang. Lúc chuẩn bị chụp ảnh, anh nào cũng bẽn lẽn, mất hết tự tin.

Chiều tối, chúng tôi đi theo một hàng binh dẫn đường vào phố. Chúng tôi đi đến đâu cũng được chủ các cửa hàng đón tiếp, bảo muốn lấy gì thì lấy. Chúng tôi chỉ xin thực phẩm, hải sản, hoa quả... Khi về đến doanh trại, đơn vị báo động kiểm tra quân tư trang. Tất cả những gì không nằm trong danh mục quân tư trang phải đem ra nộp hết. 

Tiểu đội tôi nhận lệnh công tác, xuống phà Thủ Thiêm, sang bến Bạch Đằng, nơi có một quảng trường nhỏ với bức tượng Trần Hưng Đạo đang chỉ tay xuống lòng sông. Trông thấy bát hương lớn dưới chân tượng Trần Hưng Đạo, chúng tôi nhanh chóng rẽ sang, xin bà con một thẻ hương thắp lên.

Nhang khói bay lên, chúng tôi chợt nhớ ra đã mấy năm liền không hề biết tới mùi hương khói ấm áp, thiêng liêng đến thế này. Nhìn lên khuôn mặt tượng Hưng Đạo Vương, chúng tôi như nghe thấy cả lời thơ chúc Tết của Bác Hồ 6 mùa xuân trước, đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào, Bắc Nam sum họp. Chúng tôi nhớ tới những khuôn mặt liệt sĩ đồng đội đã ngã xuống trên mặt trận Quảng Trị 3 năm trước. Những người đã không được tận hưởng niềm vui chiến thắng hôm nay. Họ đã ngã xuống trước khi đến Sài Gòn. Không có các anh, Trung đoàn tôi không thể có một chiến dịch “đánh nhàn”: Từ Quảng Trị tới Sài Gòn, mỗi người bắn chưa hết một băng đạn AK!

Chúng tôi nhìn lên cao. Khoảng trời sau lưng tượng Trần Hưng Đạo xanh thăm thẳm, nền trời không còn một vết khói chiến tranh. Vậy là giờ đây, lời tiên đoán của Nguyễn Văn Thạc đã trở thành hiện thực.

Đại tá, TS TRẦN NGỌC TÂM