Sẵn sàng cho ngày về
Với các bí danh Hồ Quang, Vương, ông Trần, từ đầu năm 1940, Nguyễn Ái Quốc đến Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc) bắt liên lạc với các đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương đang hoạt động tại đây để chuẩn bị điều kiện về nước hoạt động. Tháng 6-1940, đồng chí Vương bắt liên lạc và sau đó cử đồng chí Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng đi học trường quân chính tại Diên An.
Khoảng tháng 10 năm đó, hơn 40 thanh niên Cao Bằng vượt biên giới sang Quảng Tây (Trung Quốc) lánh địch khủng bố. Cũng trong khoảng thời gian này, do tình hình thế giới và trong nước có thay đổi nên đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp không đi Diên An nữa mà chuẩn bị về nước hoạt động. Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể trong hồi ký: Bác đã nhìn thấy một cơ hội tốt để tổ chức đường liên lạc về nước. Người nói: Chúng ta sẽ tổ chức một lớp huấn luyện cho các anh em, sau đó, đưa anh em trở về củng cố, mở rộng phong trào và tổ chức đường liên lạc về nước.
Tình hình thế giới và ở Đông Dương ngày càng có lợi cho ta, nhất là khi tin tức về phong trào tại nước nhà, nhiều nhất là cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ khiến ai cũng nóng lòng. Nhưng do vẫn chưa có cách liên lạc với Trung ương ở trong nước, Nguyễn Ái Quốc chủ trương chuyển về hoạt động ở sát biên giới rồi tính sau. Người cho rằng, vấn đề đoàn kết toàn dân giải phóng dân tộc càng quan trọng, phải nghĩ đến việc lập một hình thức mặt trận thật rộng rãi, có tên gọi cho thích hợp, có thể gọi tắt là Việt Minh cho nhân dân dễ nhớ. Người nhận định: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi”.
Như vậy, ngay từ khi chưa đặt chân về Cao Bằng, Người đã vạch ra một cách chính xác tính chất quan trọng của Căn cứ địa Việt Bắc. Và để thực hiện chủ trương trên, việc trước mắt là tổ chức cán bộ. Nguyễn Ái Quốc trực tiếp biên soạn tài liệu cho lớp huấn luyện tại Trung Quốc. Đây là lớp huấn luyện cán bộ đầu tiên cho phong trào Việt Minh ở Cao Bằng sau này. Các đồng chí Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp được Người hướng dẫn, phân công mỗi người phụ trách một mục từ tuyên truyền, tổ chức, huấn luyện, đấu tranh và trực tiếp giảng dạy.
Lễ tốt nghiệp sau đó được tổ chức giữa một khu rừng vắng vẻ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhớ: “Sau những ngày học tập, mọi người phấn khởi, náo nức hẳn lên. Anh em chúng tôi đứng vây quanh Bác, biết rõ ông cụ mảnh khảnh mặc bộ quần áo Nùng giản dị này là người gắn liền với vận mệnh của dân tộc Việt Nam... Chúng tôi ngoảnh mặt cả về phía Nam, hoan hô tinh thần Khởi nghĩa Nam Kỳ, thề sẽ thẳng tiến không lùi trên con đường cách mạng chông gai, một ngày kia sẽ đem lá cờ thiêng liêng này về nêu cao giữa Thủ đô”.
Sau huấn luyện, hơn 40 cán bộ sôi sục nhiệt huyết cách mạng được trang bị thêm kiến thức đã trở lại quê hương, tìm về cơ sở cũ gây dựng những đoàn thể cứu quốc. Cho đến cuối tháng 11-1940, hầu hết các đồng chí của ta đã về đến Tĩnh Tây. Sau đó, tại đây, Bác gặp đồng chí Hoàng Văn Thụ (do Trung ương lâm thời cử sang) và chỉ thị việc chuẩn bị tổ chức một hội nghị toàn quốc của Đảng để khi về nước, Người sẽ chủ trì.
Ngày 28-1-1941, sau 30 năm xa Tổ quốc, Nguyễn Ái Quốc cùng các đồng chí Phùng Chí Kiên, Lê Quảng Ba, Đặng Văn Cáp... rời Trung Quốc trở về Việt Nam qua cột mốc 108 biên giới Việt Nam-Trung Quốc.
    |
 |
| Bác Hồ về Pác Bó, Cao Bằng. Tranh sơn dầu của TRỊNH PHÒNG |
Như có nắng mới ùa vào
Sau 30 năm bôn ba, trong vai một ông già người Nùng với bộ quần áo chàm giản dị, Bác đã trở về Tổ quốc, cùng với Trung ương Đảng tập trung lãnh đạo nhân dân chuẩn bị mọi điều kiện tiến tới khởi nghĩa giành lại độc lập dân tộc. Người tiếp tục mở các lớp huấn luyện chính trị, quân sự cho các cán bộ ở Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên và cán bộ ở miền xuôi lên.
Tuy nhiên, sự kiện đặc biệt quan trọng, mang tính chất quyết định tới cách mạng Việt Nam là tháng 5-1941, với danh nghĩa đại diện Quốc tế Cộng sản, đồng chí Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương 8, khóa I của Đảng tại rừng Khuổi Nặm (Pác Bó, Cao Bằng).
Sinh thời, đồng chí Hoàng Quốc Việt (1905-1992), nguyên Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam kể rằng, hồi đó nghe tin “ông cụ Thu Sơn”, “ông Ké lãnh đạo” đã về nước và đang ở Việt Bắc, đồng chí vô cùng mong chờ ngày được gặp mặt trực tiếp. Sau này, dù thường xuyên làm việc bên Người nhưng ấn tượng về lần đầu gặp Bác ở Cao Bằng, đồng chí vẫn nhớ mãi.
Đồng chí Hoàng Quốc Việt kể: “Tôi cũng như nhiều đồng chí không nghĩ đời mình lại sớm có dịp gặp người chiến sĩ ưu tú của phong trào cộng sản ấy. Tôi nhớ hôm đó, liên lạc đưa chúng tôi theo đường rừng đi rất lâu mới vào tới một khe rừng sâu thẳm, lọt giữa ba bề vách núi. Từ xa, tôi đã thấy một ông già mặc áo chàm, nếu không để ý thì cũng tưởng như bao ông cụ khác trên này. Ông cụ ra đón chúng tôi, cười vui vẻ, nghe giới thiệu, bắt tay lần lượt từng người một.
Lòng xúc động hết sức, không biết xưng hô ra sao, tay tôi nắm chặt lấy tay Người và nói: “Đồng chí ạ”. Ông cụ bảo chúng tôi nghỉ một lát và tìm một tảng đá rộng làm chỗ ngồi. Chúng tôi quây quần xung quanh. Ông cụ hỏi chuyện đi đường và sức khỏe từng người. Tôi để ý thấy ông cụ cao gầy, mắt sáng, trán cao, chòm râu đẹp lạ thường. Một đồng chí ngồi bên thì thầm: “Đại biểu quốc tế đấy, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đấy!”.
Bấy giờ, Bác Hồ đã về nước được hơn 3 tháng. Chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương 8, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Trung ương làm việc hầu như không nghỉ. Là con gái của đồng chí Hoàng Quốc Việt, hiện sống ở phố Nguyễn Cảnh Chân, TP Hà Nội, bà Hạ Chí Nhân đã được cha kể cho nghe nhiều kỷ niệm sâu sắc những ngày lịch sử đó. Bà Nhân nhớ rõ, đồng chí
Hoàng Quốc Việt kể hầu hết các cuộc họp đều diễn ra trong một căn nhà sàn nhỏ trong rừng, phía trước có một cây hoa mạ, màu hoa vàng rợi. Trên sàn có một chõng tre dài làm bàn viết, những khúc gỗ làm ghế ngồi. Chính ở nơi đơn sơ, trống trải, các đồng chí lãnh đạo của Đảng đã họp bàn những vấn đề thiêng liêng về vận mệnh của dân tộc. “Mới đầu chúng tôi gọi ông cụ là đồng chí, rồi gọi là cụ. Sau thấy các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ dùng tiếng “Bác”, hợp với lòng mình nên từ đấy tất cả chúng tôi bắt đầu thưa với Người bằng cái tên thân yêu ấy”-đồng chí Hoàng Quốc Việt kể.
Là đại biểu chính thức về dự hội nghị, sau đó được cử tham gia Ban Chấp hành Trung ương và được bầu làm Ủy viên Thường vụ Trung ương, đồng chí Hoàng Quốc Việt có nhiều kỷ niệm với Bác những ngày mới về nước lãnh đạo cách mạng. Ngoài giờ họp, Bác thường gọi từng đại biểu các xứ ra một chỗ riêng hỏi chuyện. Đồng chí Hoàng Quốc Việt được Bác hỏi đến hai, ba lần về đời sống của nhân dân, chính sách áp bức của Nhật, Pháp.
Đồng chí đã mạnh dạn báo cáo đầy đủ với Bác về tình cảnh đồng bào ta từ khi chiến tranh xảy ra. Nhất là từ khi Nhật vào, đàn áp và bòn rút thậm tệ. “Ngồi trên một mỏm đá, nghe cha tôi kể, Bác ứa nước mắt, kéo vạt áo chàm lên lau trên gò má, khiến ông cũng không cầm được nước mắt. Có lần Bác hỏi đến lực lượng của phong trào, tình hình tổ chức quần chúng, hoàn cảnh sinh hoạt của cán bộ, cách đi lại, hoạt động, phòng gian, giữ bí mật của cán bộ ta. Bác hỏi rất cặn kẽ, tỉ mỉ.
Qua lời Bác hỏi, cha tôi cảm thấy lòng Bác thương yêu nồng nàn, quan tâm tha thiết đến đời sống của đồng bào, đồng chí ta. Trò chuyện chung với nhiều cán bộ, Bác hỏi kỹ về thái độ của các tầng lớp đồng bào đối với cách mạng. Rồi đến địa chủ tư sản, địa chủ bóc lột... Có anh em trẻ đang hăng nói: Bóc lột là không được! Bác từ tốn hỏi lại: Nhưng họ có giúp cách mạng, vậy họ có yêu nước không? Cứ thế, Người giúp hình thành trong cha tôi và nhiều đồng chí cộng sản cùng thời tư tưởng chỉ đạo về đường lối Mặt trận đoàn kết thống nhất ngay từ sớm”-bà Hạ Chí Nhân bồi hồi nhớ lại chuyện cha từng kể.
Triển khai nghị quyết của Hội nghị Trung ương 8, ngày 6-6-1941, Bác đã viết thư “Kính cáo đồng bào” gửi các tầng lớp nhân dân cả nước. Người chỉ rõ: “Hỡi các chiến sĩ cách mạng! Giờ giải phóng đã đến. Hãy phất cao cờ độc lập, lãnh đạo toàn dân đánh tan thù chung... Máu nóng của bậc anh hùng đương sục sôi trong lòng các đồng chí! Chí phấn đấu của quốc dân đương chờ đợi sự lãnh đạo của các đồng chí! Chúng ta hãy tiến lên! Toàn thể đồng bào tiến lên! Đoàn kết thống nhất đánh đuổi Pháp, Nhật!”...
Những lời lẽ tâm huyết của Bác đã gây một tác động lớn. Nhận thức trong đồng bào và các đồng chí ta suốt từ Bắc chí Nam như có nắng mới ùa vào. Từ khu rừng Pác Bó âm u, những chỉ đạo của Người gợi mở, giúp đồng bào, đồng chí nhìn thấy rất rõ tiền đồ tươi sáng của cách mạng nước ta và thế giới!
NGUYỄN QUANG THỊNH